Xem Nhiều 12/2022 #️ Biện Pháp Phòng Trị Bọ Chét Trên Mèo / 2023 # Top 18 Trend | Goldenworldbeauty.com

Xem Nhiều 12/2022 # Biện Pháp Phòng Trị Bọ Chét Trên Mèo / 2023 # Top 18 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Biện Pháp Phòng Trị Bọ Chét Trên Mèo / 2023 mới nhất trên website Goldenworldbeauty.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bọ chét trên mèo là gì?

Bọ chét mèo là một loại ký sinh trùng hút máu động vật máu nóng. Chúng được xếp loại nhóm côn trùng gây hại lớn nhất không những vì hút máu, mà còn vì khả năng truyền bệnh. Bọ chét mèo là loại bọ chét phổ biến nhất trong nhà. Bọ chét mèo có thể hút máu chó và đôi khi cắn con người (rất hiếm).

Bọ chét mèo trưởng thành dài khoảng 3.2mm. Cơ thể dẹp hai bên và màu từ nâu đen đến đen. Đôi khi bọ chét màu sẽ có màu đen đỏ khi hút đầy máu. Đầu bọ chét cái nhỏ và không cân xứng, do chiều dài gấp đôi chiều cao. Bọ chét mèo không có cánh và có 6 chân, các chân sau giúp chúng nhảy xa. Trứng bọ chét mèo dài khoảng 0.5mm có màu trắng và hình bầu dục.

Khi vật chủ di chuyển thì bọ chét sẽ đẻ trứng dọc đường đi. Mỗi ngày chúng có thể đẻ đến 50 trứng. Trứng này sẽ rơi ra khỏi cơ thể mèo và lẫn vào môi trường xung quanh.

Trong vòng 2-16 ngày trứng sẽ nở thành ấu trùng, sau đó là nhộng trong kén. Giai đoạn này chúng đang “ngủ đông”, và có thể kéo dài đến tận 2 năm. Chúng sẽ ngủ đông cho đến khi gặp được vật chủ mới. Con nhộng sẽ cảm nhận sự hiện diện của vật chủ nhờ nhiệt độ và sự di chuyển của vật chủ. Bọ chét chỉ cần vài giây để tiếp cận và ký sinh lên vật chủ.

Nguyên nhân gây bọ chét

Đa số mấy bé mèo đều có bộ lông dày và làn da ấm áp, nơi trú ngụ tuyệt vời cho lũ bọ chét. Ngoài ra mèo còn cung cấp lượng máu dưỡng chất giúp cho bọ chét tiếp tục sinh sôi phát triển.

Mèo bị nhiễm bọ chét như thế nào? Có nhiều khả năng có thể xảy ra, nhưng những nguyên nhân sau là phổ biến nhất:

Làm sao để biết mèo nhiễm bọ chét? Triệu chứng như thế nào?

Khá đơn giản để kiểm tra bé mèo có bọ chét không. Những con côn trùng bé nhỏ này sẽ để lại những dấu vết có thể thấy bằng mắt thường trên da bé mèo. Nếu bé đã bị nhiễm bọ chét khá lâu sẽ là nguyên nhân gốc rễ dẫn đến nhiễm trùng hoặc các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác.

Điều nên đáng lưu ý là cho dù bé mèo được chăm sóc vệ sinh sạch sẽ cỡ nào cũng có khả năng nhiễm bọ chét. Do đó nhiều chủ nuôi đã bị sốc vì không thể tin được bé mèo nhà mình có bọ chét.

Bạn nên biết rằng số bọ chét mà bạn thấy trên bộ lông mèo chỉ là phần nổi của tảng băng. Số lượng trứng và thiếu trùng bọ chét trong nhà bạn nhiều gấp mấy lần.

Mỗi con bọ chét có thể đẻ đến 50 trứng. Thử tưởng tượng xem số lượng của chúng sẽ sinh sôi đến cỡ nào sau vài tuần.

Làm thế nào để phòng trị bọ chét

Chúng ta đều biết rằng mèo nhiễm bọ chét từ môi trường và từ những con mèo khác, vì vậy rất khó để trị bọ chét cho mèo. Bạn phải chú ý cả mèo và môi trường. Đối với mèo thì dùng những sản phẩm trị bọ chét nhỏ gáy/ viên uống/ sữa tắm/ xịt hoặc kết hợp (sản phẩm nhỏ gáy hiện nay được xem là hiệu quả và an toàn nhất).

Vệ sinh nhà như sau:

Sử dụng máy hút bụi công suất cao để hút sàn nhà, ghế và nệm. Bọ chét, trứng, ấu trùng và nhộng thường ẩn nấp trong các kẽ hở và không gian nhỏ. Nếu được bạn nên sử dụng máy hút bụi có túi đựng để sau khi hút sẽ bỏ túi mà không phải tiếp xúc trực tiếp.

Sử dụng hơi nước nóng để làm sạch thảm và bọc ghế, cả nệm mèo nữa. Kết hợp xà phòng và nhiệt độ cao sẽ giết chết bọ chét ở tất cả các giai đoạn của vòng đời. Đặc biệt chú ý làm sạch tất cả các khu vực mà mèo hay nằm.

Giặt tất cả các bề mặt vải, của cả chủ nuôi và mèo bằng nước nóng. Bật chế độ sấy khô ở nhiệt độ cao nhất. Nếu mèo nhiễm bọ chét nặng, có thể vứt bỏ tất cả và thay mới.

Dùng các sản phẩm hóa học. Sản phẩm có chứa aerosol dạng xịt được khuyến cáo nên dùng hơn dạng phun sương, do bạn có thể xịt dưới giường hoặc những khu vực khuất khác mà máy phun sương không phun tới được. Chọn một sản phẩm trị côn trùng có tác dụng với con trưởng thành, như permethrin, có khả năng trị bọ chét trưởng thành, hoặc chất ngăn chặn vòng đời côn trùng như methoprene hoặc pyriproxyfen, có khả năng tiêu diệt trứng, ấu trùng và nhộng. Chủ nuôi và mèo nên tránh xa các hóa chất tiêu diệt bọ chét này cho đến khi khô hẳn. Đảm bảo rằng bạn mang bao tay khi xịt hóa chất, và chỉ xịt khi không còn ai trong nhà.

Vệ sinh sân vườn như sau:

Cắt cỏ thường xuyên và cào kỹ mặt đất. Bọ chét hay ẩn náu trong các khóm cỏ cao. Ngay lập tức cho vào bao rác, không ủ phân hữu cơ.

Làm sạch các mảnh rác vụn, như lá hoặc cành cây khô, làm sạch các bụi rậm cũng như khu vực trồng hoa. Phát quang các khu vực rậm rạp để ánh sáng mặt trời chiếu tới càng nhiều càng tốt.

Rải các mảnh gỗ tuyết tùng tại các khu vực mà mèo hay nằm, ví dụ bên dưới bụi rậm, trên các luống hoa (mùi hương của gỗ tuyết tùng có công dụng đuổi côn trùng).

Liên hệ các shop bán dụng cụ làm vườn để hỏi mua hạt lưu huỳnh hoặc tuyến trùng (giun tròn, giun đất), đây là các loại giun nhỏ có thể ăn trứng bọ chét. Bạn có thể thả cả hai ở các khu vực nghi ngờ để làm sạch bọ chét.

Tổng kết

Bọ chét mèo gây ra nhiều phiền toái cho cả chủ nuôi và mèo. Bọ chét hút máu mèo và truyền bệnh cho mèo (sán dây, gây thiếu máu, nhiễm trùng Bartonella, gây viêm da dị ứng do bọ chét) và cả chủ mèo nữa (sốt phát ban và dịch hạch, “bệnh mèo cào”-nhiễm trùng do Bartonella. Cách tốt nhất để phòng ngừa bọ chét là cho mèo dùng sản phẩm nhỏ gáy thường xuyên (các bác sĩ thú y hay khuyến cáo dùng 1 lần mỗi tháng nếu có khả năng).

Bọ Chét Chó Sợ Mùi Gì? Cách Phòng Tránh Bọ Chét Hiệu Quả / 2023

Đặc điểm của ve chó

Ve chó còn được biết đến với tên gọi bọ chét. Đây là loài vật nguy hiểm bám trên da của thú cưng, nhất là chó.

Ve chó là con gì?

Có rất nhiều loại ve chó với kích thước, màu sắc đa dạng. Trung bình 1 con ve chó có kích thước khá nhỏ, dài dưới 5mm, sống ẩn dật dưới lông động vật nên rất khó phát hiện. Tuy nhiên, khi hút nhiều máu, chúng sẽ phình to ra và dễ nhìn thấy hơn.

Nguồn gốc ve chó

Ve chó thường xuất hiện nhiều vào thời điểm giao mùa xuân – hạ, khi thời tiết nóng ẩm, thuận lợi cho sự phát triển của chúng. Vậy bọ chét chó sợ mùi gì ?

Sau khi giao phối cùng ve đực, ve cái sẽ rời khỏi cơ thể chủ, tìm nơi thoáng mát, không có ánh sáng chiếu vào để đẻ trứng. Mỗi lần, chúng có thể đẻ lên tới 4000 quả trứng, những quả trứng này sẽ nở ra ve chó.

Ve chó sống được bao lâu?

Sau khi trứng nở, ve chó mới sinh sẽ tiếp tục tìm cơ thể động vật và sống kí sinh, hút máu để tồn tại. Nếu không có máu để hút, chúng chỉ có thể sống được vài ngày.

Nếu tìm được cơ thể động vật và sống tại đó, ve chó có thể hút máu nuôi dưỡng cơ thể, tuổi thọ của bọ chét có thể lên đến 1 tháng.

Tác hại của ve với chó

Bọ chét sống kí sinh trên cơ thể chó và hút máu, khiến chúng bị ngứa, mất máu dẫn tới mệt mỏi, chán ăn, suy nhược cơ thể.

Nếu chủ nhân không phát hiện và tìm cách diệt bọ chét trên người chó kịp thời, chúng sẽ hút máu vật nuôi của bạn cho đến chết.

Bọ chét sợ gì nhất? Rận chó cắn người có sao không?

Ve chó hay bọ chét là kí sinh trùng nguy hiểm, bạn cần tìm hiểu kỹ lưỡng về chúng để biết cách phòng và điều trị tận gốc.

Bọ chét sợ gì nhất?

Bọ chét chó sợ mùi gì ? Có rất nhiều thứ khiến ve chó sợ hãi. Nếu biết được điều này, bạn có thể tận dụng để xua đuổi, phòng ngừa chúng như: bình xịt côn trùng, mùi xăng, mùi giấm, mùi rượu, nhựa thông,… Nếu ngửi thấy những mùi này, chúng sẽ tự động tránh xa.

Tác hại của bọ chó với người

Không chỉ hút máu động vật, ve chó cũng có thể truyền sang con người khi bạn ôm thú cưng. Chúng cắn người, chích máu, khiến da ngứa, xuất hiện các nốt sần dày khoảng 0,1 – 0,2 cm. Nếu nặng, người bị đốt còn bị phỏng rát, khó thở.

Cách phòng tránh ve chó hiệu quả

Vứt bỏ ve chó

Sau khi đã bắt hết những con ve chó ra khỏi cơ thể thú cưng. Bạn cần cho chúng ngay vào lọ cồn và đậy nắp lại. Cồn sẽ giết chết chúng sau vài giờ.

Không nên cho chúng vào bồn cầu và xả nước. Bởi khi làm như thế, chưa chắc chúng đã bị tiêu diệt. Sau khi lũ ve đã chết, bạn có thể vứt chúng vào thùng rác.

Đưa thú cưng tới bác sĩ thú y

Ve chó có thể mang nhiều mầm bệnh cho chú chó của bạn. 1 trong những bệnh đó là bệnh Lyme. Vậy nên sau khi đã loại bỏ ve chó cho thú cưng, bạn nên đưa chó tới bác sĩ thú y để kiểm tra tình trạng sức khỏe.

Nếu có 1 vài con ve chó, bạn hãy mang đến cho bác sĩ để họ dễ dàng quan sát và đánh giá các nguy cơ lây truyền bệnh dễ dàng hơn.

Thường xuyên kiểm tra ve chó trên người thú cưng

Ve chó có rất nhiều giống loài khác nhau. Tùy từng vùng mà thời gian chúng xuất hiện cũng khác nhau. Tuy nhiên, khi cho chó đi dạo hoặc chơi ở những nơi có bụi cây, cỏ mọc cao thì khi về nhà, bạn nên kiểm tra xem thú cưng có bị ve chó bám vào hay không.

Sử dụng vòng cổ phòng tránh ve chó

Loại vòng cổ này có thể giúp chó không bị ve bọ bám vào trong khoảng 3 tháng. Sản phẩm này tìm mua khá dễ dàng ở các petshop hoặc trên những trang thương mại điện tử, mua bán online.

Phòng tránh ve chó cho nhà

Phòng tránh ve chó cho thú cưng thôi là chưa đủ. Nếu ve chó xuất hiện quanh nhà của bạn, trong những bụi cây quanh vườn thì chúng sẽ lại bám vào thú cưng khi chúng chạy nhảy. Vấn đề chỉ là sớm hay muộn mà thôi.

Rào sân vườn

Những loài động vật như chuột, chồn, cáo… cũng bị ve bọ bám vào để ký sinh. Khi những con vật này lẻn vào sân vườn nhà bạn, chúng có thể để lại ve bọ. Nên hãy rào sân lại để chúng không có cơ hội lẻn vào.

Dọn dẹp lại sân vườn

Ve bọ đặc biệt yêu thích những bụi cây, đống lá khô, dưới những tán cây có bóng râm… Đó là thiên đường của chúng. Hãy dọn dẹp lại thật sạch sẽ sân nhà bạn. Không để lá khô chất thành đống, cắt tỉa gọn gàng cây cối, gia tăng diện tích ánh sáng mặt trời có thể chiếu đến trong sân nhà bạn… Làm như vậy là bạn đã khiến cho lũ ve chó không còn nơi trú ngụ an toàn.

Dọn dẹp lại nhà cửa

Quần áo chất đống, những rèm cửa, thảm trải sàn… cũng đều là nơi trú ngụ an toàn của ve chó.

Hãy nhân dịp này để dọn dẹp lại nhà cửa, giặt giũ toàn bộ những đồ vải mà ve chó có thể trú ngụ. Và lau chùi lại nhà cửa thật kỹ lưỡng.

Sử dụng thuốc chống ve bọ

Đây là cách hữu hiệu để phòng tránh ve chó. Hãy chọn những loại thuốc an toàn cho sức khỏe của con người cũng như thú cưng. Hoặc bạn có thể nhờ đến dịch vụ bên ngoài với chi phí không quá cao.

? Con Mèo Ngứa Ngáy Trên Cổ Nhưng Không Có Bọ Chét / 2023

Nội dung

Đánh bại bởi ký sinh trùng

Các nguyên nhân khác gây ngứa

Nguyên nhân gây nhiễm trùng

Tư vấn thú y

Đánh bại bởi ký sinh trùng

Hãy hiểu những gì có thể gây ngứa. Nếu con mèo liên tục ngứa, nhưng nó cảm thấy tốt, không có dấu hiệu của sự khó chịu và lo âu, sau đó bạn không nên lo lắng. Nhưng nó được khuyến khích để kiểm tra da cho vết trầy xước, máu, phát ban hoặc ký sinh trùng (bọ chét, chấy).

Ngứa từ sự xuất hiện của bọ chét là nguyên nhân phổ biến nhất của mèo lo lắng. Bọ chét trưởng thành có thể được nhìn thấy bằng cách lan rộng tóc ở cổ, ở mặt sau, gần đuôi hơn. Côn trùng sống ở những nơi mà mèo không thể tiếp cận với móng vuốt và răng của nó. Nhưng ngay cả trứng flea (nits) làm phiền con vật. Con vật ngứa ngáy, cố đẩy chúng ra khỏi lông.

Nếu con mèo liên tục trầy xước tai, cố gắng để có được bên trong của tai, sau đó nó có thể là bọ ve tai. Bạn có thể tìm thấy chúng trên một lớp gỉ tối bên trong tai. Bác sĩ thú y sẽ lấy một mảng bám trên thanh tai và thấy bọ ve dưới kính hiển vi nếu họ đã định cư với mèo của bạn. Việc điều trị sẽ bao gồm trong việc áp dụng một thuốc mỡ đặc biệt hoặc điều trị phun, làm sạch tai. Cần lưu ý rằng pháo sáng không gây nguy hiểm cho con người.

Con mèo gãi tai của nó không chỉ với sự xuất hiện của ve tai, mà còn với viêm tai giữa. Nguyên nhân của bệnh có thể là nước xâm nhập vào tai trong khi bơi lội. Và cơn đau bên trong tai khiến con mèo muốn “làm cho nó” đến chỗ đau, hy vọng loại bỏ nó. Do đó, anh gãi tai, đầu anh.

Trong một con mèo hoặc một con mèo con, các ký sinh trùng như chí và lashing liên tục muốn ngứa. Không giống như bọ chét, chúng gần như vô hình dưới lớp vỏ sáu, nhưng gây kích ứng da, bong tróc và rụng tóc.

Những nguyên nhân khó chịu nhất đối với người bị ngứa là ghẻ và nấm ngoài da, vì căn bệnh này có thể truyền sang người. Bệnh ghẻ gây ra ký sinh trùng – ngứa ghẻ. Con mèo lo lắng, liên tục ngứa ngáy.Trong trường hợp này, động vật chải da vào máu, vết loét hình thành trên các vết thương. Chỉ bác sĩ thú y mới có thể chẩn đoán đúng, kê đơn điều trị. Bệnh ghẻ được điều trị bằng một số loại thuốc đặc biệt và hoàn toàn có thể điều trị được.

Nấm ngoài da xuất hiện trong trường hợp nhiễm nấm. Tính năng đặc trưng của nó là sự hình thành các khu vực không có lông không có lông với các cạnh đặc trưng. Con mèo ngứa rất nhiều, tự chải mình vào máu. Lở loét dễ bị phân rã. Do đó, cần đến thăm phòng khám thú y kịp thời. Nấm ngoài da ở giai đoạn đầu có thể được chữa khỏi bằng thuốc mỡ. Một căn bệnh bị bỏ quên được điều trị bằng một quá trình tiêm kháng sinh.

© shutterstock

Các nguyên nhân khác gây ngứa

Ngoài việc bị nhiễm bọ chét, bọ ve, mèo thường ngứa và liếm do biểu hiện của các bệnh khác. Xem xét các nguyên nhân có thể xảy ra.

Một nguyên nhân khác gây ngứa có thể là biểu hiện của dị ứng. Trong trường hợp không có ký sinh trùng, nó là cần thiết để kiểm tra động vật cho dị ứng. Lý do cho sự xuất hiện của nó có thể là:

Những con mèo nhạy cảm thường có dị ứng với những con ve bụi vô hình đối với mắt, nhưng có mặt trong các căn hộ. Dinh dưỡng không đúng cách thường là nguyên nhân của dị ứng.Sưng ngứa đỏ cũng có thể là biểu hiện của dị ứng. Nó có thể ở dạng các điểm nhỏ màu đỏ trên da, chứng hói đầu (rụng tóc). Một phát ban dị ứng gây ngứa ngáy, do đó, con mèo ngứa vào máu, như bọ chét.

Ngay cả khi điều trị một bác sĩ thú y quy định các loại thuốc histamine, được bán trong một hiệu thuốc cho người, nó là không thể tự chữa trị trong các trường hợp dị ứng mới. Bác sĩ phải thực hiện các xét nghiệm về chất gây dị ứng và tính liều lượng của thuốc. Và một lần khác, dị ứng với các chất gây dị ứng mới có thể xảy ra. Hoặc thuốc sẽ ngừng hành động, bởi vì sẽ có một nghiện cho các hoạt chất. Quan trọng! Chỉ bác sĩ mới có thể xác định nguyên nhân gây dị ứng và kê đơn điều trị.

Trong trường hợp không có ký sinh trùng, một trong những lý do tại sao con mèo ngứa rất nhiều là rối loạn nội tiết tố. Họ được đi kèm với rụng tóc, lo lắng của động vật. Trong trường hợp này, bạn cũng không thể làm mà không cần đến phòng khám. Bằng cách này, không phải luôn luôn từ lần đầu tiên bạn có thể xác định nguyên nhân gây ngứa. Rối loạn nội tiết – một trong những lý do khó khăn nhất trong chẩn đoán. Điều trị bao gồm dùng các loại vitamin đặc biệt, thay đổi chế độ ăn uống.

Trong số các bệnh chuyển hóa gây ngứa, rụng tóc ở mèo, có thể được gọi là chính:

rối loạn tuyến giáp;

Hội chứng Cushing (các vấn đề tuyến thượng thận);

bệnh tiểu đường.

Cảm giác ngứa khiến cho sự khao khát ngứa có thể gây ra vi khuẩn và nấm rơi trên lông mèo. Điều này đặc biệt đúng đối với những con mèo bị bệnh, suy yếu với khả năng miễn dịch thấp. Biểu hiện không chỉ là con mèo ngứa. Nhiễm nấm hoặc vi khuẩn thường kèm theo phát ban đỏ trên da, một điểm yếu của động vật. Bác sĩ thường quy định một phức hợp tăng cường vitamin.

Nguyên nhân gây nhiễm trùng

Ở đây chúng tôi sẽ cố gắng xua tan ý kiến ​​của nhiều chủ vật nuôi về nguyên nhân gây nhiễm trùng ký sinh trùng và nấm. Những con mèo đã ở trên đường ít nhất một lần, được đưa đến ngôi nhà sau mùa đông, có nguy cơ bị nhiễm bọ chét, ve. Điều này đặc biệt có thể sau khi tiếp xúc với một con vật bị bệnh. Khi tiếp xúc, sự lây truyền của nấm ngoài da, ghẻ, mủ da, mite tai (demodicosis) xảy ra.

© shutterstock

Để giảm thiểu khả năng nhiễm trùng, trước khi mèo được thả ra, nó phải được điều trị bọ chét và ve.. Đối với điều này, bạn có thể áp dụng một sự chuẩn bị đặc biệt trên các héo. Nó được sản xuất trong ampulki mềm, và hành động của nó kéo dài từ một đến hai tháng. Không tiết kiệm, mua thuốc rất rẻ, thường không có hiệu quả. Để điều trị động vật sẽ tốn nhiều tiền hơn.

Collars cho động vật cung cấp bảo vệ tốt chống lại bọ chét và pincers. Ghét tẩm đặc biệt, phá hủy bọ chét cá nhân và bọ ve bắt gặp trên mèo. Nhưng cổ áo không hiệu quả nếu nhiễm trùng đã xảy ra, và số lượng ký sinh trùng gây ra mối quan tâm lớn cho động vật. Ngoài ra, cổ áo thường gây kích ứng da dị ứng, thậm chí vết thương. Điều này cũng có thể làm cho con vật bị trầy xước.

Thường thì chủ sở hữu của fluffies là ngạc nhiên tại sao một con mèo sống trong một căn hộ bắt đầu trầy xước, nó có bọ chét hoặc ve. Bạn phải biết rằng bất kỳ sự nhiễm trùng nào cũng có thể xâm nhập vào nhà từ đường phố, từ lối vào giày. Đặc biệt là nếu động vật vô gia cư sống gần nhà hoặc trong cầu thang.Một lý do khác là bọ chét sống gần. Đây có thể là mái nhà của một ban công hoặc lan can, thường phục vụ như là một “chim bồ câu chit-chat”. Vì vậy, nó là mong muốn để bảo vệ nhà của họ từ thăm chim.

Nó là rất quan trọng, trước khi đưa con mèo con về nhà từ đường phố, đến thăm với anh ta phòng khám thú y. Đặc biệt là nếu con mèo bị ngứa, nhưng không có bọ chét. Mang về nhà một con mèo bị bệnh, bạn có nguy cơ lây nhiễm vật nuôi khác, nếu có. Và nếu con vật có một bệnh ẩn được truyền sang người, thì các thành viên gia đình của bạn có thể bị ảnh hưởng. Tiết kiệm một động vật đi lạc là cao quý, nhưng ngay lập tức bạn cần phải suy nghĩ về những hậu quả có thể có, có biện pháp an ninh. Trước hết, việc điều trị bọ chét được thực hiện, ngay cả khi chúng không nhìn thấy được và mèo không bị ngứa.

Có lấy một con mèo hoặc một nhà mèo, chủ sở hữu giả định nghĩa vụ không chỉ để nuôi, mà còn chăm sóc sức khỏe của vật nuôi. Để không lây nhiễm cho một con vật và không lây nhiễm cho chính mình, nó là cần thiết để thực hiện theo các quy tắc vệ sinh cá nhân, đặc biệt là sau khi “nói chuyện” với một con mèo.

Bài 62: Viêm Da Do Bọ Chét / 2023

VIÊM DA DO BỌ CHÉT

( Flea dermatitis )

1. ĐẠI CƯƠNG

Bọ chét thuộc bộ Siphonaptera, không có cánh. Bọ chét sống kí sinh bên ngoài nhờ hút máu của những động vật máu nóng, có vú và loài chim. Có tới trên 2.200 loài bọ chét. Trong đó có những loài thường gặp là:

–   Bọ chét mèo ( Ctenocephalides felis): vật chủ chính của bọ chét là mèo nhà nhưng loài này cũng lây nhiễm cho phần lớn các loài chó trên thế giới. Bọ chét mèo cũng có thể có chu trình sinh học trên các loài động vật ăn thịt khác và trên loài thú có túi.Loài người cũng có thể bị bọ chét mèo cắn nhưng không thể bị lây nhiễm vì lí do bọ chét này không thích ứng được với môi trường trên vật chủ lạc chỗ là người.

–   Bọ chét chó ( Ctenocephalides canis).

–   Bọ chét người ( Pulex irritans) : có vai trò truyền bệnh dịch hạch từ người sang người.

–   Bọ chét chuột phương Bắc ( Nosospsyllus fasciatus ).

–   Bọ chét chuột phương Đông (Xenopsylla cheopis) : là một loài côn trùng kí sinh trên các động vật gặm nhấm, chủ yếu là chuột và đóng vai tro là trung gian truyền bệnh dịch hạch và sốt phát ban chuột. Sự lan truyền bệnh xảy ra khi bọ chét hút máu loài gặm nhấm và sau đó hút máu người. Bọ chét chuột phương Đông được biết đến nhiều vì nó đóng vai trò trong reo rắc ‘ Cái chết đen ‘ bệnh dịch hạch.

Hiểu biết về sinh thái của các loài bọ chét là rất quan trọng, giúp chúng ta nắm được sự phân bố của chúng trên thế giới, mật độ, khả năng gây bệnh và truyền bệnh của chúng.

Bọ chét là loài kí sinh trùng biến thái hoàn toàn. Vòng đời của bọ chét khoảng 20 đến 35 ngày phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm của môi trường. Bọ chét phát triển trong điều kiện nóng ẩm, thích hợp ở nhiệt độ 21-35ºC và độ ẩm 70-85%. Gặp điều kiện không thuận lợi, nhiệt độ đột ngột hạ thấp thì bọ chét ngừng phát triển và tồn tại kéo dài vài  tháng đến một năm. Ở môi trường trong nhà bọ chét sinh sản quanh năm, ngoài trời chỉ phát triển vào những tháng ấm. Ở miền Bắc nước ta, bọ chét phát triển nhiều vào tháng 2 tháng 3 khi thời tiết chuyển từ mùa đông sang mùa xuân hè.

Vòng đời cuả bọ chét có 4 giai đoạn : giai đoạn trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành. Vòng đời được bắt đầu từ bọ chét cái đẻ trứng.

Điểm đặc biệt của bọ chét trưởng thành là khi có khả năng sinh sản thì chúng mới hút máu. Cả bọ chét đực và cái đều hút máu. Bọ chét trưởng thành có thể nhịn đói và sống được vài tháng. Bọ chét cái chỉ đẻ trứng sau khi đã hút máu. Sau mỗi lần hút máu, mỗi bọ chét cái đẻ từ 2 – 20 trứng. Suốt cuộc đời một bọ chét cái đẻ khoảng 800 trứng. Trứng có thể dính trên da, lông của vật chủ hoặc rơi xuống đát. Vì vậy, thường những vùng đất mà vật chủ ngủ hoặc trú ngụ là môi trường sống đầu tiên của trứng để phát triển thành ấu trùng bọ chét.

Sau khoảng 2 – 14 ngày, tùy theo điều kiện môi trường, chúng nở thành ấu trùng không có chân. Ấu trùng sống ở đất, phát triển bằng cách thay lông và lột xác 3 lần trong vòng 8 đến 24 ngày. Ấu trùng có thể kéo dài thời gian phát triển trên 6 tháng trong điều kiện không thuận lợi. Ấu trùng bọ chét sống ở các kẽ sàn nhà, ga trải giường, thảm và ở chỗ ngủ của động vật.  Chúng không có chân nhưng chuyển động bằng lông cứng trên cơ thể. Ấu trùng thích chỗ tối, ẩm ướt, ở đó chúng ăn những mảnh chất hữu cơ như phân của bọ chét trưởng thành, phân và những mảnh thức ăn thừa của vật chủ.

Trước khi chuyển sang giai đoạn nhộng bất hoạt, ấu trùng bọ chét phát triển đầy đủ các bộ phận rồi tự nhả tơ quấn xung quanh mình để tạo thành kén (nhộng). Giai đoạn nhộng kéo dài từ 5 – 7 ngày nhưng có thể đến một năm trong những điều kiện không thuận lợi.

Bọ chét trưởng thành có kích thước nhỏ, dài khoảng 1,5 – 3,3 mm, mau đỏ thẫm hoặc đen, đôi chân sau thay đổi, trở nên dài, to mập để nhảy. Bọ chét trưởng thành có thể nhảy cao đến 18 cm và xa đến 33 cm. Thân chúng dẹt ở hai bên, lưng có những gai hướng về phía sau làm hoạt động của chúng chỉ tiến về phía trước xuyên vào lông, tóc của vật chủ và giúp chúng không bị tuột ra ngoài. Bọ chét trưởng thành tồn tại ở trong kén cho đến khi gặp vật chủ thích hợp. Tùy theo điều kiện của môi trường, bọ chét trưởng thành có thể ở trong kén tới 5 tháng để chờ vật chủ. Trong kén, bọ chét trưởng thành nhận biết được sự có mặt của vật chủ thích hợp bằng cảm nhận hơi nóng,  mùi của cơ thể vật chủ, luồng khí, rung động của sàn và môi trường xung quanh. Khi phát hiện được vật chủ thích hợp, bọ chét chui ngay ra khỏi cắn và tìm tới vật chủ. Đặc điểm sinh thái này chính là lí do thấy bọ chét trưởng thành xuất hiện khi người ta trở về nhà sau chuyến du lịch hoặc khi dọn đến nhà mới. Bọ chét tránh ánh sáng, thường tìm thấy trong các đám lông tơ, lông vũ của động vật hoặc ở giường ngủ, quần áo của người. Do có khả năng nhảy rất xa cho nên khi vật chủ bị chết, bọ chét có thể nhảy tìm vật chủ khác. Bọ chét thường kí sinh ở chó, mèo, chuột và nhảy sang người.

2. NHẬN DẠNG

–   Bọ chét trưởng thành có kích thước 0,5 – 3,5 mm

+   Màu sắc thay đổi từ hơi nâu đỏ đến nâu đen ( bọ chét chó hoặc mèo).

+   Không có cánh, thân dẹt theo 2 bên, người có nhiều gai xuôi về phía sau.

+   Hai càng sau mập và dài, dùng để nhảy.

–   Ấu trùng dài 4 – 10 mm, màu trắng, không có chân nhưng rất cơ động.

–   Nhộng được ngụy trang tốt vì rất dính và nhanh chóng được các hạt bụi, cát mịn bao quanh.

3. GÂY BỆNH VÀ TRUYỀN BỆNH

3.1. Bọ chét truyền bệnh

3.1.1. Truyền bệnh dịch hạch

Dịch hạch đã xuất hiện từ thời cổ xưa, tồn tại đến ngày nay. Trong vòng 2.000 năm qua đã gây bốn trận đại dịch với số tử vong khủng khiếp trong lịch sử nhân loại. Nhất là 2 đại dịch vào thế kỷ VI làm chết gần 40 triệu người và thế kỷ XIV nổi tiếng với tên Trận Dịch Đen thời trung cổ, ước tính gây tủ vong cho khoảng 25 triệu người châu Âu, 40 triệu người châu Á, châu Phi. Đến năm 1895, Alexandre Yersin là người đầu tiên phát hiện ra căn nguyên của dịch hạch. Bệnh truyền nhiễm tối nguy hiểm do vi khuẩn Yersinia pestis gây ra. Đây là loài bệnh của thú vật truyền sang người.

Bọ chét là vật chủ trung gian truyền bệnh dịch hạch. Đầu tiên dịch hạch xảy ra ở các loài động vật hoang dại như chuột và một số loài gặm nhấm khác. Kh chúng bị chết, bọ chét sẽ rời vật chủ sang đốt người và có thể truyền bệnh cho người. Loại bọ chét chuột phương Đông (Xenopsylla cheopis) đóng vai trò chính trong việc truyền bệnh dịch hạch từ chuột sang người. Bọ chét chuột phương Đông không có hàm răng lược ở hàm và ở ngực. Đặc điểm này được dùng để phân biệt với các loại bọ chét mèo, bọ chét chó và những loài bọ chét khác. Sau đó bệnh có thể truyền từ người sang người bởi họ chét người ( Pulex irritans). Dịch hạch là bệnh có ổ dịch từ thiên nhiên, rất nguy hiểm bởi vì nó xảy ra rộng rãi ở các quần thể loài gặm nhấm. Trước đây, dịch hạch được gọi là ‘cái chết đen’ và là nguyên nhân gây ra các vụ dịch thảm khốc. Hiện nay, dịch hạch vẫn còn là bệnh rất nguy hiểm vì nó thường xảy ra rộng rãi ở các quầ thể của các loại gặm nhấm. Ở vùng nông thôn, vùng miền núi, dịch hạch xảy ra khi con người đi vào vùng tiếp xúc với các loài động vật hoang dã. Nguy hiểm nhất là những người thợ săn, họ có thể bị bọ chét đã nhiễm bệnh dịch hạch chích đốt trong khi mang vác các động vật vừa giết được. Ở các đô thị, dịch hạch có thể xảy ra khi chuột sống quanh những khu dân cư bị nhiễm bệnh.

Ở Việt Nam trong thập niên 1960 – 1970, là nước đã báo cáo có số lượng bệnh nhân dịch hạch nhiều nhất nhì thế giới với hàng ngàn trường hợp xảy ra hàng năm. Tại các vùng Nam Bộ và ven Tây Nguyên, do đặc điểm rừng núi, hoang dã nên thường xuyên có dịch hạch xảy ra nhiều hơn miền Bắc .

Bệnh dịch hạch được biểu hiện bằng 3 thể lâm sàng là thể hạch, thể phổi và thể nhiễm trùng máu :

Thê hạch : bọ chét đã nhiễm vi khuẩn Yersinia pestis đốt người, truyền sang người Yersinia pestis gây viêm, sưng đau hạch vùng, kèm sốt trên 38ºC. Các hạch bạch huyết chứa đầy vi khuẩn, đặc biệt là hạch ở nách và bẹn. Nếu chẩn đoán và điều trị đúng, kịp thời thì bệnh nhân sớm khỏi bệnh. Nếu không được phát hiện, điều trị sớm thì tỷ lệ tử vong có thể chiếm tới 50%.

Từ hạch, vi khuẩn dịch hạch vào máu gây nhiễm trùng huyết. Vi khuẩn nhân lên làm các nội tạng bị nhiễm độc tố gây nhiễm trùng toàn thân, xuất huyết, thân thể tím đen, viêm màng não… Bệnh nhân sẽ sốt cao 40 – 41ºC, rét run đau đầu dữ dội, tiêu chảy và nôn mữa nhiều lần, hốt hoảng, vật vã, kích động, nói sảng, thở nhanh nông.

Thể phổi : có những tổn thương tại phổi, lây lan rất mạnh do vi khuẩn dịch hạch dễ dàng phát tán từ người bệnh sang người lành qua nước bọt, đờm dãi khi ho hoặc hắt hơi. Bệnh nhân sốt cao, rét run, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, bức rứt. Khoảng 24 giờ sau bệnh nhân sẽ thấy đau tức ngực, khó thở, thở nhanh nông. Ho có đờm nhầy và loãng sau đặc dần, có máu hoặc có nước bọt. Nếu không được điều trị sớm thì hầu hết tất cả các trường hợp đều tử vong.

Thể phổi có hai loại : thể phổi nguyên phát do vi khuẩn dịch hạch được hít vào bằng đường hô hấp ( thường gặp ở thợ săn, những người sử dụng đồ lông thú), những vi khuẩn dịch hạch khi hít phải sẽ thâm nhập vào phổi gây viêm phổi tiên phát,  viêm hoại tử phổi, nhiễm độc dẫn đến suy hô hấp, tử vong. Thể phổi thứ phát là viêm phổi, bệnh nhân khạc ra máu, ra đờm. Trong đờm và máu có vi khuẩn dịch hạch, người ngoài hít phải vi khuẩn dịch hạch từ đờm bệnh nhân trở thành viêm phổi tiên phát rất nặng.

Để chẩn đoán sớm dịch hạch, cần lưu ý đến khu vực sinh sống có bọ chét, chuột, nhất là khi phát hiện có chuột chết, sau đó người bị sốt, nổi hạch… thì nhanh chóng đi khám bệnh. Với những người hay làm thịt chuột cũng cần hết sức cảnh giác nếu tay có vết xước vì vi khuẩn gây bệnh dịch hạch có thể xâm nhập qua vết thương hở vào máu và gây bệnh.

3.1.1.1. Xét nghiệm

Bệnh phẩm : mủ (hạch ), máu, đờm, nhầy họng, phủ tạng, huyết thanh chuột, bọ chét. Nhuộm gram soi dưới kính hiển vi thấy trực khuẩn dịch hạch Yersinia pestis bắt màu gram âm thuộc họ Enterobacteriaceae.

Nuôi cấy phân lập vi khuẩn.

Phát hiện kháng nguyên F1.

Miễn dịch huỳnh quang.

3.1.2. Truyền bệnh sốt phát ban 

Bệnh xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới và thường được ghi nhận tại các vùng con người sống có nhiều chuột. Bệnh nhân gây do Rickettsia mooseri, gặp rải rát ở các đàn chuột. Vì vậy, bênh sốt phát ban do bọ chét còn được gọi là bệnh sốt phát ban chuột. Bệnh lây lan chủ yếu do bọ chét chuột và bọ chét mèo. Người bị lây nhiễm do ô nhiễm từ phân khô và xác bọ chét. Loài bọ chét chính có vai trò trung gian truyền bệnh là Xenopsylla cheopis.

3.1.2.1. Triệu chứng lâm sàng: Thời gian ủ bệnh từ 2 – 3 tuần, xuất hiện các ban đỏ ngoài da  vào khoảng ngày thứ 5, nhưng không xuất huyết. Thời gian sốt khoảng 2 tuần nhưng có thể rút ngắn khi sử dụng kháng sinh. Ít khi có biến chứng.

3.1.2.2. Xét nghiệm để chẩn đoán phân biệt với sốt phát ban do Rickettsia phát ban dựa trên phản ứng vi ngưng kết đặc hiệu với Rickrttisia mooseri ( hiệu giá tối thiểu 1/160 vào ngày thứ 10).

3.1.3. Truyền các bệnh sán

Bọ chét có thể truyền các loại sán ở chuột là Dipylidium caninum, Hymenolepis fraterna và Hymenolepis diminuta. Người bị nhiễm các loại sán này là do nuốt phải ấu trùng bọ chét có chứa trứng sán. Sán trưởng thành sống trong ruột non của vật chủ chính (chuột). Những đốt sán có trứng tách khỏi chuỗi đốt sán hoặc thành đốt sán đơn độc hoặc thành chuỗi đốt sán ngắn hơn, rồi sau đó chúng di chuyển tự do trong ruột qua hậu môn ra ngoài môi trường hoặc thấy trong phân chuột. Bằng cách di chuyển theo nhu động của các đốt sán có trứng, chúng ly giải trứng rơi vãi trên nền nhà và xung quanh hậu môn chuột. Trứng này được ấu trùng bọ chét tiêu hóa.

3.1.3.1. Biểu hiện lâm sàng:

Từ nhẹ đến vừa với các triệu chứng: chán ăn, biến ăn, rối loạn tiêu hóa nhẹ, khó tiêu, đau bụng, tiêu chảy và ngứa vùng xung quanh hậu môn, suy nhược, thiếu máu, gầy sụt.

3.2. Bọ chét gây bệnh

3.2.1. Triệu chứng lâm sàng

Ngoài truyền bệnh, bọ chét có thể gây các bệnh da. Khi bọ chét đốt người để hút máu sẽ gây phản ứng dị ứng ở da. Đó là phản ứng của cơ thể với nước bọt của bọ chét tiết ra khi đốt người. Thời gian xuất hiện phản ứng da tùy thuộc vào từng đối tượng thường trong khoảng từ 12 đến 24 giờ sau khi bị bọ chét đốt. Trường hợp phản ứng muộn có thể xuất hiện sau 1 tuần. Ở Việt Nam thường gặp bọ chét chó ( Ctenocephalides felis) và bọ chét mèo ( Ctenocephalides canis). Ngứa là triệu chứng chính xuất hiện sau khi bị bọ chét đốt. Ngứa làm bệnh nhân gãi có thể gây trầy xước da, sau xuất hiện các sẩn huyết thanh kích thước 1 – 2 mm, giờ cao hơn mặt da, đỉnh chóp sẩn có mụn nước nhỏ.

Những trường hợp phản ứng mạnh ( hay gặp ở trẻ em) có thể thấy xuất hiện bọng nước tại vị trí bọ chét đốt, xung quanh có quầng đỏ gây viêm quầng hoặc gây viêm tấy đỏ lan tỏa, bội nhiễm… Những trường hợp phản ứng nhẹ thì chỉ thấy ban đỏ tại nơi bọ chét đốt giống như muỗi đốt.

Vị trí thương tổn thường gặp ở phần da hở hoặc ở những vùng da tiếp xúc trực tiếp với con vật khi người ta ôm, bế chúng như: vùng cổ, mặt, tay, chân, vùng quanh thắt lưng.

4. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BỆNH

Các biện pháp phòng chống được sử dụng tùy mục tiêu là diệt bọ chét truền bệnh hay bọ chét thông thường.

Để phòng chống bệnh dịch hạch và bệnh dịch sốt phát ban do bọ chét truyền phải kết hợp hai biện pháp: diệt chuột và phun hoặc rắc hóa chất tiêu diệt bọ chét vào nơi sống của chuột.

Đối với các loài bọ chét gây phiền hà có thể sử dụng các biện pháp tự bảo vệ cá nhân như chất xua đuổi côn trùng, dùng quần áo tầm hóa chất diệt côn trùng. Cần vệ sinh nhà cửa, phòng ngủ, thường xuyên giặt chăn màn, phun hoặc rắc hóa chất diệt côn trùng vào các khe, kẽ, góc phòng.

Đối vớ bọ chét chó, mèo sử dụng hóa chất rắc, phun, tắm vào lông của chúng hoặc dùng lufenuron. Lufenuron theo máu được bọ chét cái hút vào khi đốt vật chủ có tác dụng ngăn cản sự phát triển của trứng. Ngoài ra, có thể sử dụng vòng cổ có tầm hóa chất diệt bọ chét cho động vật.

(Tài liệu được biên soạn bởi PGS. TS. Trần Văn Tiến của Bộ môn Da liễu, trường Đại học Y Hà Nội)

Bạn đang xem bài viết Biện Pháp Phòng Trị Bọ Chét Trên Mèo / 2023 trên website Goldenworldbeauty.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!