Xem Nhiều 12/2022 #️ Tìm Hiểu Về Dân Tộc Mông (Mèo) Ở Việt Nam (P1) / 2023 # Top 16 Trend | Goldenworldbeauty.com

Xem Nhiều 12/2022 # Tìm Hiểu Về Dân Tộc Mông (Mèo) Ở Việt Nam (P1) / 2023 # Top 16 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Về Dân Tộc Mông (Mèo) Ở Việt Nam (P1) / 2023 mới nhất trên website Goldenworldbeauty.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Dân tộc Mông, dân tộc thiểu số đặc biệt trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, sống chủ yếu trên những vùng núi có độ cao từ 1.000 m trở lên. Cùng với 53 dân tộc anh em, người Mông luôn là một phần trong sự thống nhất của khối đại đoàn kết dân tộc và góp phần làm phong phú văn hoá các dân tộc Việt Nam

Sự phân bố dân cư và lịch sử.

Người Mèo là một trong bảy dân tộc thiểu số tương đối đông ở miền Bắc nước ta, có 1.068.189 người (Theo thống kê năm 2009), sống ở vùng cao thuộc các tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hòa Bình, Hà Tây. Trong các tỉnh người Mèo cư trú xen kẽ với nhiều dân tộc anh em khác, nhưng không giống với nhiều dân tộc như Dao, Lô Lô, Pu Péo…Họ ở tập trung thành từng vùng rõ rệt, trong đó người Mèo chiếm tỉ lệ dân số cao so với các dân tộc anh em cùng chung sống. Những khu vực tập trung đông người Mèo ở miền Bắc nước ta là: cao nguyên Đồng Văn, Hoàng Su Phì – Bắc Hà – Mường Khương, Mù Cang Chải – Trạm Tấu – Bắc Yên, Sa Pa – Phong Thổ – Sìn Hồ – Tủa Chùa, Điện Biên và các khu vực tiếp giáp của các huyện Thuận Châu và Tuần Giáo. Những vùng cư trú của người Mèo không gắn liền với nhau thành một dải, mà thường bị ngăn cách bởi nhiều khu vực cư trú của các dân tộc, nhưng trong quan hệ dòng họ và hôn nhân, nhân dân các vùng nhất là các vùng tiếp giáp nhau còn những mối liên hệ nhất định.

Các vùng cư trú của đồng bào Mèo thường là những sườn núi có độ dốc cao trung bình từ 800m đến 1.500m – 1.700m so với mực nước biển, địa hình hiểm trở, vách đá dựng đứng trên những thung lũng dạng hẻm vực. Ở Tây Bắc địa hình cao hơn và sự chia cắt theo chiều đứng mạnh hơn so với Đông Bắc.

Ở độ cao từ  800m – 1.700m, khí hậu vùng Mèo nằm trong vành đai khí hậu cận nhiệt đới, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 15 – 20 độ C. Lượng mưa hàng năm từ 2.000 – 3.000 milimét, nhưng ở những nơi khuất gió, lượng mưa chỉ độ 700 milimét. Đặc điểm độ mưa là: một mùa mưa, một mùa khô mà trong mùa khô lượng mưa hàng tháng chỉ vài chục milimét hoặc có khi không mưa, nên thường thiếu nước.

Đất ở vùng Mèo nằm trên khu đất latêric có mùn. Trên vành đai này ở những nơi rừng ít bị tàn phá thì thực vật còn nhiều, các cây rụng lá tăng lên, do đó tỉ lệ mùn đạt từ 5 – 8%. Vì có nhiều mùn nên đất màu xám, ở phía dưới đất màu nâu.

Kiểu rừng rậm cận nhiệt đới, ẩm ướt thường thấy trên các núi cao Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lai Châu, Điện Biên…Song rừng đã bị tàn phá nhiều, thoái hóa thành rừng thứ sinh hoặc xavan và mỗi vùng có đặc điểm riêng. Tuy nhiên vẫn chưa hết những cánh rừng nhiều thứ gỗ quí, nhiều thú ăn thịt và các loài ăn cỏ…

Với tinh thần lao động cần cù và sáng tạo người Mèo biến nhiều vùng cao miền Bắc nước ta thành nơi có thể sinh sống ngày càng giàu đẹp, thành quê hương thân yêu của mình. Đồng bào thường nói:

Cá ở dưới nước

Chim bay trên trời,

Chúng ta sống ở vùng cao.

Và con chim có tổ,

Người Mèo ta cũng có quê,

Quê ta là Mèo Vạc.

Đồng bào ở cao nguyên Đồng Văn còn cho rằng trên đỉnh núi Mèo Vạc có giếng thần và có đôi chim chuyên nhặt lá cây để nước giếng trong sạch. Người ta muốn uống nước giếng thần để khi ốm đau bệnh chóng khỏi, khi chết hồn được về với tổ tiên. Vì vậy trước đây những người có tuổi đều mong muốn đến thăm Mèo Vạc – “nơi quê cha đất tổ”  và “ được uống nước giếng thần” . Lòng yêu quê hương xứ sở; trên cơ sở đó nảy nở lòng yêu nước Việt Nam anh hùng của người Mèo. Lòng yêu nước đó ngày càng được củng cố trong quá trình sát cánh cùng các dân tôc anh em đấu tranh bảo vệ đất nước và xây dưng cuộc sống mới.

Đại bộ phận người Mèo nước ta gọi là Mống (sau này gọi là Mông), một nhóm người khác gọi là Ná Miảo. Mống cũng là tên tự gọi người Mèo ở Lào, Thái Lan và ở Xuyên, Kiềm, Diên Nam Trung Quốc. Ngoài ý nghĩa chỉ cộng đồng tộc người, Mống còn là từ gọi dòng họ.

Mèo là tên gọi có nguồn gốc lịch sử lâu đời. Tộc danh Mèo theo âm Hán – Việt là Miêu, theo một số nhà nghiên cứu là tên dùng để gọi những người đã sớm biết nghề trồng lúa ở vùng hồ Bành Lãi ( Tỉnh Giang Châu)  và hồ Động  Đình (Tỉnh Hồ Nam) Trung Quốc ngày nay, ngày nay đã trở thành tên gọi chính thức.

Dựa vào một số đặc điểm dân tộc học, có thể phân người Mèo tự gọi là Mống ở nước ta thành các nhóm: Mông trắng, Mông hoa, Mông xanh, Mông đen.

Người Mèo được coi là con cháu của một trong những cư dân bản địa cổ ở Nam Trung Quốc. Sự gần gũi giữa tiếng Mèo và tiếng Dao được nhiều người giải thích  bằng nguồn gốc chung của hai dân tộc này trong thời cổ đại. Từ thế kỷ VII đến thế kỷ IX, người Mèo và người Dao bắt đầu tách thành những cộng đồng dân tộc riêng. Từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ XVI, người Mèo phải thường xuyên đi về phía Nam để tránh sự áp bức bóc lột của phong kiến. Trong các thế kỷ đó, người Mèo ở Quí Châu tương đối đông. Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX dưới sự thống trị của nhà Mãn Thanh, chế độ thổ ty cha truyền con nối có từ thời Minh đã được thay bằng chế độ bổ nhiệm (hơn nữa chỉ bổ nhiệm người Mãn và người Hán), làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các dân tộc  khác (trong đó có người Mèo) và hai dân tộc này.  Mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội được thể hiện rõ trong các phong trào nổi dậy của quần chúng; đặc biệt là cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc, người Mèo đã tham gia khá đông. Dưới thời Quốc Dân Đảng, người Mèo cũng không tránh khỏi bị áp bức bóc lột nặng nề và phải đấu tranh không ngừng.

Từ Tây Nam Trung Quốc, người Mèo đã di cư đến Việt Nam trong những thời gian và nhiều đợt khác nhau. Nguyên nhân của các cuộc di cư như đã nói là sự mong muốn thoát khỏi tình trạng áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiến Mãn –  Hán, muốn thoát khỏi sư tàn sát sau những cuộc phản kháng, muốn có nơi sinh sống tốt hơn. Những đợt di cư đầu tiên của người Mèo cách đây gần 400 năm đến các vùng biên giới thuộc  các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái. Sau đó, các luồng di cư lớn vào khoảng 300 năm và gần 200 năm trước đây. Hầu hết người Mèo nước ta còn nhớ là họ đã từ Quí Châu đến Việt Nam.

Lịch sử thiên di của người Mèo cũng là lịch sử đấu tranh không ngừng chống phong kiến áp bức dân tộc. Đến Việt Nam họ mong muốn có cuộc sống ổn định và ấm no hơn. Trong đồng bào có lưu truyền rằng: Việt Nam là nơi có nhiều đất đai màu mỡ và dễ làm ăn, nơi có quả bí to như cái vạc mà lợn rừng có thể khoét lỗ chui vào đó đẻ con, nó vừa là ổ, vừa là thức ăn cho lợn; nơi trồng cây lương thực gốc có củ, thân có bắp, ngọn trổ lúa. Trước khi đồng bào đến những vùng hiện nay, ở đó đã có người sinh sống, nhưng rất thưa thớt, rừng rậm còn nhiều, đất mới khai thác, mùa màng thường tốt. Dần dần đồng bào đã có những đám nương, ruộng bậc thang mà mình cần.

Nhưng ở đây họ cũng không thoát khỏi ách bóc lột, nhất là từ lúc thưc dân Pháp xâm lược đặt ách thống trị. Bởi vậy, nhiều cuộc đấu tranh của người Mèo đã nổ ra:

–        Cuộc đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp xâm nhập Bắc Hà do hai anh em Dương Chính Hồng (Giàng Chẩn Hùng) và Dương Chính Vinh (Giàng Chẩn Dùng) lãnh đạo (1886 – 1897).

–        Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của người Mèo và Dao do Đào Chính Lục (Thào Chểnh Lù) và Đặng Phúc Thành đứng đầu ở Mù Cang Chải, Than Uyên, Văn Chấn tỉnh Yên Bái (1889 – 1897).

–        Cuộc đấu tranh chống phu, thuế của đồng bào Mèo 2 tỉnh Cao Lạng (1904).

–        Cuộc đấu tranh của đồng bào Mèo ở cao nguyên Đồng Văn tỉnh Hà Giang do Sùng Mí Chiảng lãnh đạo (1911 – 1912).

–        Cuộc đấu tranh của đồng bào Mèo Lai Châu, Điện Biên, Sơn La do Pa Chay lãnh đạo (1918 – 1922).

Đặc điểm nổi bật của các cuộc đấu tranh đều là đấu tranh vũ trang với tinh thần dân tộc cao với mục đích đấu tranh cụ thể: “không đi phu, không nộp thuế, tự do chuyên chở muối và thuốc phiện” (1911 – 1912), “Quyết tâm tiêu diệt đồn Bắc Hà” (1886 – 1897”. Vì thế đã nhanh chóng tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân bao gồm cả già trẻ, gái trai tiến hành đấu tranh vũ trang gây cho địch nhiều tổn thất. Bọn thực dân Pháp đã phải huy động những lực lượng lớn để tiến hành càn quét phá hoại mùa màng lương thực, vừa đàn áp, vừa mua chuộc lôi kéo quần chúng. Người Mèo đã chiến đấu ngoan cường, thực hiện vườn không nhà trống, hy sinh tất cả; nhưng cuối cùng họ đều thất bại vì sự lạc hậu về tổ chức, lãnh đạo, chưa biết đoàn kết các dân tộc anh em. Tuy vậy, bọn thực dân Pháp đã không dập tắt được tinh thần phản kháng của đồng bào. Tinh thần đó được phát huy mạnh mẽ khi có sự lãnh đạo của Đảng và giai cấp công nhân.

       (Còn nữa)

Bảo Tàng Dân Tộc Học Việt Nam / 2023

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam vừa là một cơ sở khoa học vừa là một trung tâm văn hóa, có tính khoa học cao và tính xã hội rộng lớn. Bảo tàng có các chức năng như sau: Nghiên cứu khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, phục chế, trưng bày, trình diễn, để giới thiệu và giáo dục về những giá trị lịch sử – văn hóa của các dân tộc trong và ngoài nước; cung cấp tư liệu nghiên cứu về các dân tộc; đào tạo cán bộ nghiên cứu, nghiệp vụ, quản lý về nhân học bảo tàng và bảo tàng dân tộc học.

Hiện nay Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là một địa chỉ hấp dẫn du khách trong và ngoài nước tới để tham quan, nghiên cứu, trải nghiệm văn hóa các dân tộc Việt Nam. Đây là nơi thường xuyên tổ chức các buổi trình diễn nghề thủ công và các loại hình văn hóa dân gian khác nhau của các dân tộc ở Việt Nam, Đông Nam Á và các khu vực khác trên thế giới. Chính vì sự hấp dẫn này mà trên trang TripAdvisor đã bình chọn bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đứng ở vị trí thứ 4 trong số 25 bảo tàng hấp dẫn nhất châu Á năm 2014, đứng sau Bảo tàng tượng binh mã Tần Thủy Hoàng (Trung Quốc), Bảo tàng Diệt chủng Tuol Sleng (Campuchia) và Bảo tàng Tưởng niệm Hòa bình Hiroshima (Nhật Bản). Cũng theo bình chọn của du khách trên TripAdvisor, Bảo tàng DTHVN được xếp vị trí số 1 trong top 10 bảo tàng hấp dẫn nhất tại Việt Nam. Đây là lần thứ 3 liên tiếp Bảo tàng DTHVN được du khách vinh danh trên TripAdvisor, năm 2013 được xếp thứ 6/25 bảo tàng hấp dẫn nhất châu Á và năm 2012 được nhận chứng chỉ Xuất sắc (Excellent Certificate).

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tọa lạc bên đường Nguyễn Văn Huyên ở quận Cầu Giấy, cách trung tâm thủ đô Hà Nội chừng 8 km. Đây vốn là vùng đất ruộng của cư dân sở tại trước đây. Tất cả các công trình cơ sở hạ tầng đều mới được xây dựng cùng với quá trình hình thành Bảo tàng. Đường Nguyễn Văn Huyên và đường Nguyễn Khánh Toàn chạy qua phía trước Bảo tàng cũng đều mới được xây dựng. Công trình Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam do kiến trúc sư Hà Đức Lịnh (người dân tộc Tày, thuộc Công ty Xây dựng nhà ở và công trình công cộng, Bộ Xây dựng) thiết kế. Nội thất công trình do Bà kiến trúc sư Véronique Dollfus (người Pháp) thiết kế.

Trong khoảng thời gian đầu bảo tàng có 2 khu vực chính: Một khu bao gồm nhà trưng bày, văn phòng và cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản, hệ thống các bộ phận kỹ thuật, hội trường… Các khối nhà liên hoàn với nhau, có tổng diện tích 2.480m2, trong đó 750 m2 dùng làm kho bảo quản hiện vật. Khu thứ 2 là khu trưng bày ngoài trời, rộng khoảng 2 ha, bắt đầu xây dựng năm 1998 và hoàn thành công trình trưng bày cuối cùng trong năm 2006.

Bên cạnh đó, hiện nay Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được cấp thêm hơn 1 ha đất, nâng diện tích khuôn viên của Bảo tàng lên gần 4,4 ha. Tại phần đất mở rộng này, từ giữa năm 2007 bắt đầu xây dựng một tòa nhà 4 tầng, sẽ mang tên “nhà Cánh diều”, để giới thiệu về văn hóa các dân tộc nước ngoài, chủ yếu là các dân tộc ở Đông Nam Á. Đây sẽ là khu trưng bày thứ 3 của Bảo tàng.

Hiện nay bảo tàng có diện tích gần 4,5ha, bao gồm ba khu trưng bày:

– Thứ nhất, toà nhà 2 tầng có tên gọi Trống đồng, trưng bày về các dân tộc ở Việt Nam, bắt đầu mở cửa phục vụ công chúng từ ngày 13/11/1997.

– Thứ hai, khu trưng bày ngoài trời, được gọi là Vườn kiến trúc, rộng khoảng 2ha, xây dựng từ năm 1998 đến 2006, giới thiệu chủ yếu 10 công trình kiến trúc dân gian của 10 dân tộc ở Việt Nam.

– Thứ ba, toà nhà 4 tầng có tên gọi Cánh diều, khởi công xây dựng tháng 6/2007 và khai trương trưng bày đầu tiên vào cuối năm 2013, là khu trưng bày về các cư dân ngoài Việt Nam, trước hết là các dân tộc ở Đông Nam Á.

Mười năm đầu mở cửa, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã đón tiếp khoảng 1.200.000 lượt khách tham quan, trong đó có trên 530.000 khách quốc tế đến từ hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Số du khách đến Bảo tàng ngày càng gia tăng, năm 2007 đạt 337.000 lượt người, trong 6 tháng đầu năm 2008 – hơn 210.000 lượt người…

– Mở cửa: 8h30-17h30 các ngày trong tuần từ thứ 2 hàng tuần và Tết Nguyên đán.

– Đóng cửa: thứ Hai hằng tuần và Tết Nguyên đán

– Thứ Hai – Thứ Sáu hằng tuần: + 84-24-3836-0352

– Thứ Bảy – Chủ Nhật: + 84-24-3836-0351

– Lễ tân / Tham quan: + 84-4-3756-2193 (trừ Thứ Hai hằng tuần)

– Bán vé: + 84-24-3836-0350 (trừ Thứ Hai hằng tuần)

– Truyền thông và công chúng: + 84-24-3756-2193 (trừ Thứ Hai hằng tuần)

– Hoạt động giáo dục: + 84-24-3756-2192 (#121, trừ Thứ Hai hằng tuần)

– Hành chính: + 84-4-3756-2192 (#118, trừ Thứ Bảy, Chủ Nhật)

a. Giá vé thăm quan: 40.000 đồng/người/lượt.

b. Các trường hợp được giảm giá vé:

– Sinh viên: 15.000 đồng/người/lượt.

– Học sinh: 10.000 đồng/người/lượt.

– Các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa (Người cao tuổi; Người khuyết tật,…..): giảm 50% giá vé.

– Người dân tộc thiểu số: giảm 50% giá vé.

c. Các trường hợp được miễn vé:

– Trẻ em dưới 6 tuổi.

– Người khuyết tật nặng đặc biệt.

– Người có thẻ ICOM.

– Người có thẻ Người bạn Bảo tàng của BTDTHVN.

– Phí thuyết minh trong nhà tiếng Việt: 50.000 đồng

– Phí thuyết minh ngoài trời tiếng Việt: 50.000 đồng

– Phí thuyết minh toàn bộ bảo tàng tiếng Việt: 100.000 đồng

– Phí thuyết minh trong nhà tiếng Anh/Pháp: 100.000 đồng.

e. Phí chụp ảnh tại bảo tàng:

– Máy ảnh du lịch: 50.000 đồng/máy.

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có các không gian trưng bày trong nhà và không gian vườn với các công trình kiến trúc dân gian. Để đảm bảo chất lượng Tham quan, không nên tổ chức các đoàn quá đông. Đối với các đoàn Tham quan có thuyết minh, số lượng không quá 30 người/thuyết minh. Đối với các học sinh, để học sinh có thể “vừa học, vừa chơi”, các lớp nên tổ chức Tham quan rải rác trong năm, Tham quan từng lớp một, không nên tổ chức Tham quan theo trường. Bảo tàng có các chương trình nhà trường và hoạt động tham quan phù hợp với các độ tuổi khác nhau và với chương trình học, các môn học khác nhau; ngoài ra còn có các chương trình giáo viên hướng dẫn tổ chức Tham quan cho học sinh.

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có các hướng dẫn viên Tham quan tiếng Việt, Anh, Pháp cho các khu vực khác nhau (Các dân tộc Việt Nam, Văn hoá Đông Nam Á, Kiến trúc dân gian…). Bạn có thể yêu cầu hướng dẫn tại chỗ, mua vé trước cổng Bảo tàng, tuy nhiên, để đảm bảo chắc chắn có hướng dẫn (vì số lượng hướng dẫn viên có hạn) bạn nên đăng ký trước khi đến Bảo tàng theo số điện thoại sau: 02437562193 (trừ thứ Hai hằng tuần) hoặc 02437562192.

Khi tới thăm quan bảo tàng quý khách cần tuân thủ một số quy định như sau:

– Không mang theo vũ khí, chất dễ cháy, nổ, chất gây khói, các chất độc hại như axit, chất ăn mòn, đồ đạc quá khổ và các vật dụng nguy hiểm khác.

– Để hành lý tư trang đúng nơi quy định (tiền và những vật phẩm có giá trị cao cần đem theo người).

– Giữ vệ sinh chung, bỏ rác đúng nơi quy định.

– Không mang đồ ăn, thức uống vào bảo tàng.

– Không gây ồn ào.

– Không cầm, sờ, ngồi lên hiện vật, di chuyển hiện vật.

– Không dùng đèn flash khi chụp ảnh trong các phòng trưng bày.

– Không tự ý tổ chức các hoạt động trong bảo tàng.

– Không mang súc vật vào bảo tàng.

– Không trèo cây, bẻ cành, ngắt hoa, hái quả… trong vườn bảo tàng.

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được thành lập theo quyết định của thủ tướng chính phủ ngày 24 tháng 10 năm 1995. Bảo tàng được xây dựng trong 2 năm và chính thức khánh thành ngày 12 tháng 11 năm 1997.

Loại hình bảo tàng dân tộc học rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn về nhiều phương diện trên qui mô quốc gia cũng như ở từng địa phương, bởi vì Việt Nam có tới 54 dân tộc. Cho nên, ngay từ năm 1981 Nhà nước đã chủ trương hình thành một Bảo tàng Dân tộc học đặt tại thủ đô Hà Nội. Công trình Bảo tàng Dân tộc học được chính thức phê duyệt luận chứng kinh tế – kỹ thuật ngày 14-12-1987 và được Nhà nước cấp đất để xây dựng: năm 1987 – 2.500m2, năm 1988 – 9.500m2, đến năm 1990 Thủ tướng Chính phủ có quyết định giao toàn bộ 3,27 ha.

Bảo tàng bắt đầu được cấp vốn chuẩn bị đầu tư vào năm 1986. Công việc xây dựng móng triển khai từ cuối năm 1989. Theo luận chứng kinh tế – kỹ thuật, tổng kinh phí để xây dựng là 27 tỷ đồng, chưa kể khoảng 4 tỷ đồng cho việc sưu tầm hiện vật, tư liệu và tổ chức trưng bày.

Suốt nhiều năm, Ban quản lý công trình Bảo tàng và Phòng Bảo tàng là một bộ phận của Viện Dân tộc học. Ngày 24-10-1995, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định về việc thành lập Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (trực thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam).

Ngày 12 tháng 11 năm 1997, đúng vào dịp Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 7 các nước có sử dụng tiếng Pháp họp tại Hà Nội, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Tổng thống Cộng hòa Pháp Jacques Chirac đã cắt băng khai trương Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Đây là công trình được thiết kế bởi kiến trúc sư Hà Đức Lịnh (dân tộc Tày) và nữ kiến trúc sư người Pháp Véronique Dollfus, gồm ba khu vực trưng bày chính: khu trưng bày trong tòa Trống Đồng, khu trưng bày ngoài trời và khu trưng bày toà nhà 4 tầng có tên gọi Cánh diều (là khu trưng bày về các cư dân ngoài Việt Nam, trước hết là các dân tộc ở Đông Nam Á).

Có thể nói, Bảo tàng này là một trung tâm trưng bày và lưu giữ quí giá về văn hoá của 54 dân tộc anh em. Tính đến năm 2000 đã tích luỹ được 15.000 hiện vật, 42.000 phim (kèm ảnh màu), 2190 phim dương bản, 273 băng ghi âm các cuộc phỏng vấn, âm nhạc, 373 băng video và 25 đĩa CDRom. Đồng thời, đây là một trung tâm nghiên cứu dân tộc học với những chuyên gia về các dân tộc, các lĩnh vực chuyên ngành. Người ta đến đây không chỉ để tham quan, giải trí, mà còn để tìm hiểu, nghiên cứu về các dân tộc, các sắc thái văn hoá đa dạng và đặc sắc của từng tộc, từng vùng cũng như những giá trị truyền thống chung của các dân tộc. Vì vậy, từ nhân dân khắp các miền trong nước đến khách nước ngoài, từ học sinh, sinh viên đến nhà khoa học đều có thể tìm thấy sự hấp dẫn ở đây.

Hiện vật của BTDTHVN không phải chỉ là những cổ vật đắt tiền, mà chủ yếu bao gồm nhiều thứ rất bình thường trong đời sống hàng ngày của người dân như: con dao, cái gùi, chiếc khố, ống sáo, cái tẩu, tấm chiếu… Chúng phản ánh mọi khía cạnh văn hoá vật thể và phi vật thể của cộng đồng dân cư, thể hiện tiêu biểu mọi mặt cuộc sống và mọi sáng tạo văn hoá của họ. Bởi vậy, trong Bảo tàng này, hiện vật rất phong phú, có thể hình thành được nhiều sưu tập theo các tiêu chí khác nhau. Bảo tàng có 54 bộ sưu tập về từng dân tộc, như: về người Thái, về người Hmông, về người Gia Rai… Phân chia theo công dụng, có các sưu tập về y phục, các đồ trang sức, về nông cụ, về ngư cụ, về vũ khí, về đồ gia dụng, về nhạc cụ… Lại có tập hợp riêng về các hiện vật tôn giáo-tín ngưỡng, cưới xin, ma chay hay nhiều hoạt động tinh thần, xã hội khác. Trên cơ sở đó, Bảo tàng tổ chức trưng bày và xuất bản sách ảnh theo các dạng thức sưu tập khác nhau, bổ ích và lý thú đối với mọi đối tượng, mọi trình độ học vấn.

BTDTHVN được triển khai theo nhiều quan niệm mới phù hợp với sự tiến bộ khoa học và kỹ thuật. Trước hết đó là quan niệm Bảo tàng dành cho tất cả mọi người. Quan niệm này được thể hiện trong cả kiến trúc lẫn trong kỹ thuật trưng bày. Bảo tàng có lối đi riêng thích hợp cho thương binh hay những người khuyết tật phải di chuyển bằng xe đẩy và có thang máy để họ lên xem tầng hai. Các bậc lên xuống đều có tay vịn cho người già yếu tiện đi lại. Trong trưng bày, kế thừa kinh nghiệm của nhiều bảo tàng trên thế giới, BTDTHVN đã không chọn chữ in mà chọn chữ viết thường cho tất cả các bài viết để người xem ở các lứa tuổi có thể đọc dễ dàng và không mỏi mắt. Các tấm pa nô cũng được treo ở tầm cao có tính toán phù hợp với cả lứa tuổi thiếu nhi. Phần trưng bày của Bảo tàng có hiện vật, có ảnh, bài viết, có băng hình, có các tư liệu tham khảo… mà người xem tuỳ trình độ và nhu cầu khác nhau có thể khai thác nhiều hay ít.

Phần trưng bày thường xuyên của Bảo tàng hiện nay chỉ trưng bày một số lượng hiện vật hạn chế: gần 700 hiện vật khối và 280 ảnh. Quan điểm chủ đạo là không tham đưa quá nhiều hiện vật vào trong các tủ trưng bày, bởi sẽ gây cảm giác thừa ứ hoặc khó tiếp cận được một cách tập trung.

Phương pháp bố trí nội dung trong trưng bày của Bảo tàng là kết hợp giữa cộng đồng ngôn ngữ và vùng lãnh thổ. Hầu hết hiện vật trưng bày là hiện vật gốc, được lựa chọn và chủ yếu phô bày trong 97 tủ kính lớn nhỏ khác nhau: có loại tủ 1 mặt, có loại 4 mặt, có tủ chứa nhiều hiện vật, có tủ chỉ đặt 1 hoặc vài ba hiện vật. Trong số đó, hơn 50 tủ có bài viết giới thiệu kèm theo. Mỗi hiện vật đều có phụ đề ghi rõ tên gọi hiện vật, đồng thời cho biết dân tộc và xứ sở sản sinh ra nó. Bảo tàng cũng sử dụng manơcanh, bản đồ, biểu đồ, sách cứng, ảnh, phim video, băng âm thanh, một số mô hình và 33 pa nô trong trưng bày. Mặc dù diện tích không lớn, nhưng trong nhà vẫn có một số điểm nhấn được trưng bày theo hình thức tái tạo về một tập tục hay một nét văn hoá nào đó. Người xem có thể hiểu được nội dung tái tạo không chỉ thông qua hệ thống hiện vật, mà còn có cả phim video nữa.

Bảo tàng cố gắng tìm các giải pháp kỹ thuật hiện đại trong phương pháp thể hiện trưng bày như việc sử lý ánh sáng, dùng đèn chuyên dụng chiếu vào từng hiện vật hay từng bộ phận của hiện vật làm nổi lên vẻ đẹp cần gây sự chú ý quan sát. Trong điều kiện hiện nay, Bảo tàng đã lựa chọn phương án thông khí cho toàn bộ khu trưng bày. Từng tủ kính đều được lắp hệ thống thông khí để đảm bảo cho hiện vật không bị mốc.

Nơi đây không chỉ là trung tâm lưu giữ và trưng bày quý giá về văn hóa mà còn là nơi tổ chức nghiên cứu khoa học, sưu tầm, phân loại, đánh giá, bảo quản, phục chế, trưng bày, giới thiệu, khai thác các giá trị lịch sử, văn hóa về phương diện dân tộc học của các dân tộc anh em.

Khu vực bên trong bao gồm các khối nhà trưng bày, cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản…

Hiện nay, phần trưng bày trong nhà chiếm trọn toà nhà 2 tầng với diện tích 2.500m2 có dáng mô phỏng hình trống đồng – một biểu tượng chung của nền văn minh Việt Nam cũng như nhiều nước khác trong khu vực. Chiếc cầu đá granít dẫn vào toà nhà Bảo tàng tạo cảm giác như đang bước lên căn nhà sàn phổ biến ở nhiều vùng. Mặt nền sảnh lớn toà nhà này được trang trí bằng đá granit với biểu trưng theo hình thể của Tổ quốc có đất liền và biển cả.

Các khối nhà liên hoàn với nhau, mỗi gian trưng bày của từng tộc người thể hiện trong việc trưng bày hiện vật theo lối kể chuyện. Câu chuyện được liên kết chặt chẽ, xuyên suốt với nhau bằng nhóm hiện vật, luôn thay đổi sự hấp dẫn, thỏa mãn nhu cầu khác nhau của người xem. Mỗi gian trưng bày là một câu chuyện lớn phản ánh cuộc sống muôn màu muôn vẻ của đồng bào các dân tộc Việt Nam.

Phần lớn diện tích trong nhà được bố trí trưng bày thường xuyên, bên cạnh đó có dành riêng một không gian để tổ chức các trưng bày nhất thời theo chuyên đề. Hiện tại, trưng bày thường xuyên trong nhà được bố trí như sau:

a. Tầng 1 trưng bày 2 phần chính:

– Giới thiệu chung các dân tộc Việt Nam

– Giới thiệu các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường, bao gồm: Việt (Kinh), Mường, Thổ, Chứt.

b. Tầng 2 chia thành các phần:

– Các dân tộc Chăm, Hoa, Khơme.

– Ngữ hệ Nam Đảo ở miền núi: giới thiệu các dân tộc Gia Rai, Ê Đê, Raglai, Chu Ru.

– Nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme ở miền núi: giới thiệu 5 dân tộc ở miền Bắc (Khơ Mú, Xinh Mun, Mảng, Kháng, Ơ Đu) và 15 dân tộc ở miền Trung – Tây Nguyên.

– Nhóm ngôn ngữ Hán – Tạng: giới thiệu các dân tộc Cống, Sán Dìu, Ngái, Lô Lô, Hà Nhì, La Hủ, Phù Lá, Si La.

– Nhóm Hmông – Dao: giới thiệu các dân tộc Hmông, Dao, Pà Thẻn.

– Nhóm Tày Thái – Kađai: giới thiệu các dân tộc Tày, Nùng, Sán Chay, Thái, Bố Y

Đối với khu ngoài trời, do đất hẹp nên Bảo tàng chỉ có thể dựng 9 công trình kiến trúc dân gian cùng một số hiện vật lớn như:

– Nhà rông của người Ba Na.

– Nhà sàn dài của người Ê Đê.

– Nhà sàn của người Tày.

– Nhà nửa sàn nửa đất của người Dao.

– Nhà trệt lợp ván pơmu của người Hmông.

– Nhà ngói của người Việt.

– Nhà trệt của người Chăm.

– Nhà trình tường của người Hà Nhì.

– Nhà mồ của người Gia Rai.

Xen giữa các công trình kiến trúc dân gian đó là cây xanh các loại, các lối đi ngoằn ngoèo và cả con suối uốn khúc chảy suốt 4 mùa, có cầu bắc nối đôi bờ. Những trưng bày ở phần này đang từng bước được thực hiện.

Có thể nói, hiện vật được trưng bày trong bảo tàng rất phong phú, từ y phục, đồ trang sức, vật dụng quen thuộc trong sinh hoạt hàng ngày của các dân tộc như gùi, dao, cuốc, nông cụ… Mỗi hiện vật trong bảo tàng đều có phụ đề ghi rõ tên gọi, nguồn gốc xuất xứ, tư liệu tham khảo. Các sinh hoạt tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng như ma chay, cưới hỏi được thể hiện dưới những thước phim video sinh động và cuốn hút, có tác dụng phổ biến kiến thức rất hiệu quả. Các hiện vật ở đây được trang trí thật đơn giản, không cầu kỳ, để người xem có thể cảm thụ nhiều nhất cái hay, cái đẹp, cái tinh tế của mỗi hiện vật rất bình dị, đời thường.

Đến đây, du khách không chỉ tham quan các hiện vật được trưng bày tại khu trưng bày thường xuyên, khu trưng bày chuyên đề, khu trưng bày lưu động và khu trưng bày ngoài trời, mà còn có thể nghiên cứu, tìm hiểu về các dân tộc, bản sắc văn hóa của từng dân tộc cũng như giá trị truyền thống chung của các dân tộc.

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam còn là điểm dã ngoại ngoài trời thú vị đối với những gia đình có con nhỏ trong những ngày cuối tuần. Khu trưng bày ngoài trời với những mẫu nhà đặc trưng của mỗi dân tộc thực sự là nét sinh động cho việc học tập, nghiên cứu của các em học sinh cũng như những người nghiên cứu, tìm hiểu về phong tục, tập quán của các dân tộc.

Đặc biệt, chương trình biểu diễn múa rối nước đặc sắc của các phường rối Miền Bắc được diễn ra thường xuyên ở đây. Du khách không những được xem các nghệ sỹ biểu diễn múa rối mà còn được giao lưu với họ, được tự tay điều khiển con rối dưới nước rất thú vị. Các lớp học thủ công, thêu vải cho học sinh thường xuyên được tổ chức vào các dịp hè giúp các em vừa vui chơi giải trí vừa có thể học được nhiều kỹ năng thêu cơ bản.

Website Chords #1 Việt Nam / 2023

Điệu Valse

Ngày [Am] xưa khi tôi còn thơ dại, người ta [Am] nói tôi nhìn không giống ai. Tôi đã [Dm] nghĩ mọi người không nói sai, tôi [F] buồn đau vì [E] thế. Ngày [Am] xưa tôi hay thầm mơ được về một [Am] nơi yên bình không quá xa một thành [Dm] phố nụ cười luôn ghé qua nơi [E] tôi gọi là [Am] quê [G] Ha ha hà [C] ha [E] Há ha hà [Am] ha [G] Ha ha hà [C] ha [E] Há ha hà [Am] ha   Một [Am] hôm tôi tình cơ bắt gặp một cô [Am] gái cô nhìn rất giống tôi, trộm nhìn [Dm] với nụ cười trên khóe môi tôi [F] mừng vui vì [E] thế. Tình [Am] yêu như con mèo hoang già. một đêm [Am] vắng nó tìm đến với ta, dịu dàng [Dm] nhưng lạnh lùng như bóng ma đưa [E] ta vào cõi [Am] mê. [G] Ha ha hà [C] ha [E] Há ha hà [Am] ha [G] Ha ha hà [C] ha [E] Há ha hà [Am] ha   DK: [A] Những dáng người như dòng sông nước [A] sâu [E] vẫn trôi tìm về nơi [A] ấy. [A] [D] Nhìn thời gian trôi [A] mà không tiếc nuối [E] là người tự do ó o ó [A] o [A] [D] Nhìn thời gian trôi [A] mà không tiếc nuối [E] là người tự do ó o ó [A] ò   Một [Am] hôm tôi nhận được tin rằng người con [Am] gái tôi hằng thương rất thương nằm lặng [Dm] trong quan tài bên nén hương cô [F] rời xa trần [E] thế. Dòng [Am] thư cho tôi đặt trên bàn rằng nơi [Am] cô đi về không quá xa, một thành [Dm] phố nụ cười luôn ghé qua, nơi [E] cô gọi là [Am] quê [G] Ha ha hà [C] ha [E] Há ha hà [Am] ha [G] Ha ha hà [C] ha [E] Há ha hà [Am] ha   (Diep Khuc)

#Mèo #Hoang #Ngọt #Band #Hợp #Âm #Điệu #Valse.

Tìm Hiểu Về Thức Ăn Cho Mèo / 2023

Dù cho chú mèo nhà bạn có kén ăn hoặc thuộc phong cách hay hờn dỗi thì chúng luôn tỏ thái độ rất dễ nhận biết khi chúng thích hoặc không thích loại thức ăn và nước uống nào đó.

Giáo sư về dinh dưỡng của trường đại học thú y Minnesota ở St. Paul, Julie A. Churchill cho biết, “Mèo ăn không nhiều và thường tỏ ra khó chịu khi chọn lựa thức ăn, vậy nên bạn cần tập cho chúng thói quen dùng thức ăn dinh dưỡng từ nhỏ để đảm bảo sức khỏe của mèo về lâu dài”.

Ông Richard Hill, giáo sư tại trường đại học thú y Florida ở Gainesville cho hay:

“Một điều cần lưu ý là tất cả các người chủ nuôi mèo đều nên biết cách đọc hiểu thông tin trên bao bì thức ăn cho mèo.

Hơn nữa, một số nhãn hiệu chỉ ghi qua loa về nguyên liệu chứ không đề cập đến chất dinh dưỡng sau đó như lượng protein và chất béo, hai trong số những yếu tố quan trọng nhất tác động đến sức khỏe chung của mèo.”

Ảnh: chúng tôi

Một số sản phẩm trộn khá nhiều tinh bột, ngũ cốc và hợp chất hóa học thay vì protein, chất béo, axit hữu cơ, taurine, amino axit, vitamin và khoáng chất làm cho dinh dưỡng trong khẩu phần ăn hàng ngày của mèo bị mất cân bằng nghiêm trọng.

Tinh bột là thành phần giúp kết dính thức ăn hạt cho mèo và tạo độ giòn kích thích mèo nhai kỹ hơn nhưng với hàm lượng quá cao sẽ khiến mèo mắc bệnh và rối loạn về hệ tiêu hóa.

Protein hay chất đạm là những phân tử sinh học được cấu thành bởi nhiều amino axit có nhiệm vụ tổng hợp protein, xây dựng và tái tạo tế bào, tái cấu trúc, truyền thông tin, hình thành kháng thể. Protein có trong thịt, cá, trứng, sữa và một số loại ngũ cốc, đậu nành, đậu, men và các loại hạt.

Chất béo là một dạng năng lượng dự trữ mà cơ thể chó mèo chỉ giải phóng khi cơ thể chúng thực sự cần. 1 gram chất béo tương đương 9 kcal năng lượng trao đổi chất, gấp 2.5 lần so với năng lượng từ 1 gram tinh bột hoặc protein. Chất béo có trong bơ, mỡ động vật, trứng và cá loại rau.

Vậy, làm sao để nhận biết thức ăn nào là cân bằng dành cho mèo? Đơn giản là bạn hãy đọc kỹ dòng thông tin trên bao bì được chứng nhận bởi Hiệp hội Văn phòng kiểm tra thực phẩm chăn nuôi Mỹ ( AAFCO).

Hình ảnh thức ăn cho mèo con (nguồn: www.cityzoo.vn)

Khẩu phẩn ăn của mèo con phụ thuộc nhiều vào độ tuổi, kích cỡ, giống mèo và thói quen hoạt động nhiều hay ít nhưng trung bình vào khoảng 200 calories một ngày. Từ khi mới nhận nuôi, bạn phải đảm bảo rằng mình biết rõ nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của chúng và cho mèo ăn đúng theo chế độ chúng cần.

Một số nguồn tư vấn đáng tin cậy nhất có thể là trung tâm thú y hoặc cửa hàng của Cityzoo trên toàn quốc. Đừng xem nhẹ chi tiết này vì mỗi loại thức ăn cho mèo có một mức năng lượng và dưỡng chất khác nhau.

Với chú mèo con dưới 4 – 5 tuần tuổi chỉ có thể dùng sữa mẹ hoặc sản phẩm sữa cho mèo con từ một thương hiệu uy tín (trong trường hợp bất khả kháng). Sữa mẹ là loại hỗn hợp dưỡng chất đặc biệt giúp mèo con phát triển khỏe mạnh với những kháng thể quan trọng giúp ngừa bệnh tật.

Sau thời gian này, mèo con đã có thể bắt đầu ăn dặm thêm những loại thức ăn dễ tiêu như pate ướt, nước ấm hoặc sản phẩm Royal Canin (lưu ý: đây không phải sữa bò thông thường vì sữa bò cho người có thể gây chứng khó tiêu cho mèo con). Đây là bước chuyển đổi quan trọng từ đồ ăn mềm sang thức ăn cứng.

Khi chú mèo con của bạn đủ 10 tuần tuổi, đây là thời điểm cho chúng ăn loại thực phẩm dinh dưỡng hạt khô cho mèo có đầy đủ dưỡng chất quan trọng cho quá trình phát triển. Thời điểm này bạn có thể đến Pet shop gần nhất để được tư vấn về sản phẩm thức ăn cho mèo Royal Canin.

Đối với mèo trưởng thành, dinh dưỡng dành cho một chú mèo thường xuyên hoạt động ngoài trời ( fit) sẽ khác với một chú mèo hay nằm lười trong nhà ít hoạt động ( indoor).

Hình ảnh phác thảo đặc điểm mèo ít vận động – Indoor (www.cityzoo.vn)

Ngoài ra, mèo cũng cần nhiều loại dưỡng chất thiết yếu bao gồm: protein, khoáng chất và vitamin và tỷ lệ dinh dưỡng này sẽ thay đổi tùy theo từng giai đoạn phát triển của mèo. Nắm rõ nhu cầu dinh dưỡng của mèo theo từng giai đoạn sẽ giúp mèo tránh xa bệnh tật và tình trạng thừa hay thiếu chất.

Mèo sẽ ăn chóp chép cả ngày nếu bạn cho thức ăn đầy ra tô chén nhưng bạn cần lưu ý rằng chúng không biết nên ăn bao nhiêu là đủ. Điều này dễ dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì và là nguyên nhân của một số bệnh như tiểu đường, thận, gan, tim,…

Các bác sĩ thú y thường khuyên nên đặt giờ ăn cụ thể trong ngày với số lượng vừa đủ và tránh cho mèo ăn vặt nhiều lần.

Nếu chú mèo nhà bạn là một kẻ háu ăn thì tốt hơn hết là bạn nên chuyển sang loạithực phẩm bổ sung ăn kiêng chuyên biệtvới nhiều hợp chất hữu cơ thiết yếu thay vì cắt giảm số lượng thức ăn làm chúng cảm thấy đói và khó chịu.

Đối với một số vấn đề mà mèo thường mắc phải như: dị ứng, búi lông, thừa cân béo phì, bệnh thận, v.v… thì dinh dưỡng giúp liệu pháp điều trị dựa trên sinh học phát huy hiệu quả tối đa.

Thế còn những bữa thưởng thêm hay ăn vặt thì sao?

Thỉnh thoảng chủ vật nuôi có thể cho mèo ăn thêm 5 – 10% lượng thức ăn hàng ngày nhưng không được quá thường xuyên. Những món ăn thừa trên bàn luôn khiến mèo thích thú vì khi đó chúng cảm giác gần gũi với chủ hơn.

Tuy nhiên, đây chỉ nên được xem là món bánh snack ăn dặm cho mèo vì chúng không thể hấp thu hoàn toàn chất dinh dưỡng trong đồ ăn của người.

Hình ảnh các loại thức ăn ướt cho mèo ROYAL CANIN

Bạn có thể phân loại thức ăn cho mèo ra làm 2 dạng cơ bản là: thức ăn khô dạng hạt cám viên và thức ăn ướt dạng pate.

Với mèo đã lớn tuổi, tốt hơn hết là bạn nên chọn cám viên hạt khô cho mèo vì trong loại thức ăn khô này có những chất có lợi cho quá trình tiêu hóa, dễ nhai cho cơ hàm của mèo. Một cái hay của thức ăn hạt khô cho mèo nữa là chúng không dễ bị chảy nhão ra như thức ăn ướt khi bạn để lâu ngoài không khí.

Thức ăn ướt Royal Canin thường được dùng cho mèo con hoặc thỉnh thoảng trộn chung với thức ăn hạt để mèo đổi khẩu vị. Một số trường hợp đặc biệt như mèo lười nhai cũng được cho ăn pate ướt.

Chế độ ăn chay một phần hoặc toàn phần rất tốt cho sức khỏe của người, nhưng không bao giờ là lựa chọn tốt cho động vật như mèo. Không giống chó và người, mèo cần vitamin, khoáng chất, protein và dưỡng chất thiết yếu từ thịt.

Từ thịt nhưng không phải thịt sống, thứ chỉ dành cho những chú “mèo” to xác ngoài hoang dã như sư tử, mèo rừng, báo, v.v.. Thịt sống hoàn toàn có thể gây nên nhiều tác hại ghê gớm cho sức khỏe của mèo và con người xung quanh.

Nói thêm về vấn đề này, giáo sư Hill cho biết: “Trong hoang dã, sư tử ăn tất cả bộ phận trên cơ thể con mồi chứ không riêng gì thịt. Việc chó mèo chỉ ăn thịt tươi sống sẽ gây ra sự mất cân bằng vitamin, khoáng chất và amino axit.”

Thêm nữa, những vi khuẩn trên thịt sống như salmonella và E. coli có thể làm chú mèo của bạn bị bệnh và phân của mèo sẽ lây bệnh sang người.

Chế độ ăn chay có thể giết mèo con

Bạn đã nghe về trường hợp một chú mèo con Úc gần như bị giết bởi phương pháp cho ăn chay?

Theo một bài nghiên cứu trên trang Herald Sun, người chủ của chú mèo này cho nó ăn khoai tây, sữa gạo và mì ống. Một thời gian sau, chú mèo bắt đầu trở bệnh và hồi phục sau 3 ngày ở bệnh viện với chế độ dinh dưỡng đầy đủ protein.

Mèo thuộc nhóm động vật ăn thịt cùng dòng họ với sư tử, hổ, báo đốm và sư tử núi. Việc cho mèo ăn chay là một hành động có ý tốt, tuy nhiên điều này trái với tự nhiên. Ăn chay giúp ích cho sức khỏe của con người, môi trường nhưng không thể áp đặt lên mèo.

Mèo cần một nguồn dinh dưỡng từ thịt động vật. Chủ yếu trong thịt có amino axit, taurine, niacin, axit béo, vitamin A, B1, và B12. Mèo cần ăn thịt nhiều hơn chó.

Nếu cơ thể mèo không được cung cấp đầy đủ protein, taurine, niacin, vitamin B1 và B12 thì chúng có nguy cơ mắc một số bệnh về mắt, da và lông; rối loạn đông máu; rối loạn hệ miễn dịch, kém phát triển, sụt cân, viêm nướu, tiêu chảy, rối loạn thần kinh hoặc thậm chí là tử vong.

Có cách nào cho mèo ăn chay nhưng vẫn đảm bảo sức khỏe ổn định không?

Có thể. Những nhà dinh dưỡng học có thể đưa ra những thực đơn kết hợp có tỷ lệ protein và chất béo có nguồn gốc từ thực vật với lượng bổ sung amino axit, axit béo và vitamin.

Đừng nuôi một chú mèo nếu bạn không thể hoặc không muốn cho chúng ăn một chế độ dinh dưỡng đầy đủ thịt. Ngoài tự nhiên có rất nhiều động vật ăn chay mà bạn có thể nuôi làm thú cưng thay mèo như: thỏ, chim, chuột, sóc len, dê hoặc thậm chí là chó. Chó là loài động vật ăn tạp và có thể miễn cưỡng ăn chay nếu bạn muốn.

Giáo sư Churchill chuyên ngành y tế khuyên rằng, “Nếu bạn thực sự muốn cho mèo ăn thức ăn tự chế biến tại nhà, bạn không nên cho ăn hoàn toàn các bữa bằng loại thức ăn này. Mèo nặng chỉ khoảng từ 3 đến 5 kg nên chỉ cần bạn thay đổi nguồn thức ăn dù nhỏ cũng ảnh hưởng lớn đến giá trị dinh dưỡng toàn bộ chế độ ăn uống chúng nạp vào cơ thể.”

Nói chung, hầu hết chuyên gia về thú cưng đều khuyên chủ vật nuôi nên dùng thức ăn cho mèo để chúng khỏe mạnh, xinh đẹp, tiêu hóa tốt và tránh được bệnh tật.

“Điểm nổi bật của thức ăn dành riêng cho mèo chính là chúng được nghiên cứu dựa trên hiểu biết về tập tính, thói quen và nhu cầu dinh dưỡng của mèo trong từng giai đoạn vòng đời, vì vậy chúng hoàn toàn cân bằng và giúp bạn yên tâm về khẩu phần ăn mỗi ngày của thú cưng.”

Mèo con sẽ cai sữa khi đủ 8 tuần tuổi. Ở giai đoạn này bạn cần cho chúng ăn loại thức ăn ướt cho mèo con giúp tăng cường quá trình trao đổi chất, dễ tiêu hóa và nhiều dinh dưỡng. Sau đó sẽ chuyển dần sang thức ăn mà bạn muốn.

Làm sao để mèo ăn ngon miệng? (Nguồn ảnh: www.cityzoo.vn)

Đặt chén ăn của mèo ở nơi yên tĩnh, tránh xa thùng rác, khay vệ sinh và những nơi có nhiều sự làm phiền

Đặt chén nước ở xa chén ăn, mèo không thích hai khu vực này ở gần nhau

Tương tự, nước của mèo phải luôn sạch. Chúng rất giỏi đánh hơi những thứ mất vệ sinh

Ngoài ra, bạn cần lưu ý thêm một số yếu tố khác ẩn sau thói quen ăn của mèo như: hương vị, mùi thơm, hình dạng, kích thước, kết cấu, các chất dinh dưỡng, sở thích và nguồn gốc nguyên liệu.

Nếu mèo của bạn đang kén ăn, hãy thử thay đổi thời khóa biểu các bữa ăn trong ngày cho chúng. Bạn có thể chia nhỏ bữa ăn ra nhiều lần trong ngày hoặc cho ăn đúng 2 – 3 cử cách nhau một khoảng thời gian cố định.

Thực phẩm bổ sung: cũng giống như người, mèo rất cần những thực phẩm bổ sung để đảm bảo sức khỏe luôn ổn định chống lại bệnh. Dầu gan cá tuyết là món ăn tuyệt vời giúp mèo có tâm trạng tốt, làn da và cơ xương khớp khỏe mạnh và bộ não luôn hoạt động linh hoạt.

Thức uống: mèo trưởng thành có thể uống sữa và nước, tuy nhiên chúng thích uống hai loại thức uống này trong ly hay tô bằng thủy tinh hơn vì mèo không thích mùi kim loại và nhựa. Mèo là loài vật rất “kỹ tính” nên người chủ còn phải thay nước thường xuyên và đảm bảo nước sạch, không có gợn đục nữa.

Muối: khi mèo ăn phải một thứ gì đó không tốt cho sức khỏe, cơ thể của chúng sẽ phản ứng lại bằng cách nôn ói ra ngay sau đó. Thỉnh thoảng chúng sẽ tìm ăn cỏ mèo để dễ nôn hơn, bạn nên giúp chúng bằng cách chuẩn bị sẵn cỏ mèo ngay cả khi chúng không có triệu chứng nôn mửa hoặc thử bơm vào miệng mèo một ít nước muối bằng ống tiêm thức ăn.

Ruồi: ruồi nhặn có thể làm dơ thức ăn của mèo nếu bạn để thức ăn ngoài không khí cả ngày và làm mèo bỏ ăn. Trong trường hợp này, bạn có thể dùng loại chén thức ăn chuyên dụng Ferplast Magnus để đựng vừa đủ thức ăn nhưng nhìn vẫn vun đầy kích thích mèo ăn ngon miệng hoặc loại tô đựng thức ăn đuổi ruồi nhặn bay xa. Ngoài ra, bạn có thể che tô thức ăn kỹ sau khi mèo đã ăn xong.

Hình ảnh thức ăn nguy hiểm cho mèo (Nguồn: www.cityzoo.vn)

Không phải bất kỳ thực phẩm nào cũng phù hợp với mèo, một số thức ăn sau đây có thể làm mèo nôn mửa, tiêu chảy và chán ăn mà bạn cần lưu ý:

Tùy độ nguyên chất mà socola có thể làm mèo rối loạn nhịp tim, run cơ hoặc co giật. Socola đen và socola không đường còn gây nguy hiểm hơn nếu dùng số lượng cao.

Chỉ với một hớp rượu, bia hoặc chất có cồn khác đã có thể khiến mèo gặp nguy hiểm về gan và não, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến tử vong sau một thời gian hôn mê dài.

– Cà phê, trà, nước uống có gas

Chất kích thích cao trong trà và cà phê có thể làm mèo bồn chồn, thở nhanh, rối loạn tim và run cơ mặc dù chỉ dùng với một lượng ít.

Các loại sữa con người thường dùng có lượng đường lactose khiến mèo không thể dung nạp vào cơ thể, từ đó mèo sẽ nôn mửa và tiêu chảy. Lưu ý với những sản phẩm phẩm tự nhiên từ sữa như: phô mai (pho mát), kem, sữa chua, v.v..

– Chất béo trong thịt, cá, trứng sống

Dạ dày của mèo đặc biệt khó tiêu hóa những loại chất béo từ thịt, trứng và cá nên chúng sẽ dễ nôn mửa ngay khi ăn vào. Về lâu dài, chất béo trong các loại thức ăn này còn làm mèo mắc chứng viêm tụy.

Loại trái cây rất tốt cho người này lại là một trong những nguyên nhân tạo ra bệnh thận ở mèo. Nói thêm về bệnh thận, đây là căn bệnh đứng đầu danh sách 10 căn bệnh phổ biến nhất ở mèo trong 10 năm trở lại đây với tỷ lệ 25%.

Tỏi và hành sẽ không gây nguy hiểm nếu được cân nhắc ở lượng vừa đủ. Nhưng tích tụ lượng lớn lâu ngày sẽ làm mèo bị thiếu máu và chán ăn.

Cá ngừ còn sống sẽ làm mèo buồn nôn, viêm tĩnh mạch và các biến chứng nghiêm trọng khác nếu mèo ăn thường xuyên.

Ngoài ra mèo còn đặc biệt gặp vấn đề với: hạnh nhân, hạt macca, hành tây, gan động vật, rau thơm, thức ăn hạt dành riêng cho chó, thức ăn ôi thiêu, cây hoặc củ khoai tây, bột mì đã trộn men.

Hình ảnh Bệnh thận ở mèo phổ biến đến 25% trong 10 năm gần đây

Nguồn thống kê: WebMD (Ảnh: chúng tôi

Nguồn: WebMD

Biên soạn: chúng tôi – nhà phân phối chính thức thương hiệu ROYAL CANIN tại Việt Nam

[ Vui lòng trích nguồn khi đăng lại nội dung này]

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Về Dân Tộc Mông (Mèo) Ở Việt Nam (P1) / 2023 trên website Goldenworldbeauty.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!