Top 13 # Mèo Cùng Huyết Thống Giao Phối / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Goldenworldbeauty.com

Nhận Thấy Khả Năng Tránh Giao Phối Cận Huyết Ở Loài Chim / 2023

Con người luôn ý thức về việc tránh giao phối cận huyết. Hiện tượng này cũng xuất hiện ở một số loài động vật như chuột, thằn lằn đất hay chim shorebird. Trên tạp chí BMC Evolutionary Biology, các nhà nghiên cứu cho đăng một báo cáo, trong đó chỉ ra rằng hiện tượng này cũng xảy ra ở những con chim sống cặp theo kiểu “một vợ, một chồng”. Người ta đang dự đoán rằng mòng biển xitra chân đen sở hữu khả năng chọn bạn giao phối có bộ gen khác bộ gen của mình.

Nghiên cứu này được tiến hành với sự tham gia của Richard H. Wagner đến từ Viện Konrad Lorenz thuộc Học viện khoa học Australia, Etienne Danchin từ Đại học Paul Sabatier và các nhà nghiên cứu của trường Đại học Pierre và Marie Curie, Trung tâm khoa học Alaska, Đại học Bern. Các nhà nghiên cứu kiểm nghiệm 10 chỉ dấu di truyền, vị trí của các microsatellite (còn gọi là tiểu vệ tinh) để tìm hiểu xem liệu loài mòng biển xitra tránh giao phối cận huyết bằng việc chỉ giao phối với những con có bộ gen khác hay việc giao phối cận huyết làm giảm số lượng con con được nuôi lớn.

Hai con mòng biển xitra chân đen (Rissa tridactyla) trong một cuộc tranh chấp lãnh thổ. Ảnh chụp ở đảo Farne, Anh. (Nguồn: iStockphoto/Liz Leyden)

Hầu hết các cặp đôi tránh việc giao phối cận huyết. Việc này không chỉ đơn thuần là ngẫu nhiên. Vì thế, có lẽ loài mòng biển xitra có khả năng phân biệt họ hàng của chúng trong cả một quần thể đông đúc. Số ít những đôi có quan hệ cận huyết thường đẻ ra những quả trứng có khả năng nở thấp, và con con nếu nở ra cũng có tỉ lệ sống rất thấp. Theo một tác giả của nghiên cứu này, ông Hervé Mulard, “giao phối cận huyết sẽ hủy hoại những quần thể này.”

Kể từ con non thứ hai, chúng bị ảnh hưởng rất nặng bởi hiện tượng cận huyết này. Sức chống chọi bệnh truyền nhiễm và kí sinh trùng rất thấp. Hơn thế, chúng bị bố mẹ xao nhãng và phát triển chậm chạp, cơ may sống sót thấp hơn so với con non đầu tiên.

Những nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng những con chim đực giao phối với nhiều con cái thường tìm kiếm bạn tình có kiểu gen xa nhằm đảm bảo thế hệ con sẽ có bộ gen khoẻ mạnh và tốt hơn. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng đầu tiên về việc tránh giao phối cận huyết được thực hiện rất chặt chẽ ở cặp đôi chỉ “một vợ, một chồng”. Ở những cặp này, cả con bố và con mẹ đều tham gia vào nuôi dưỡng con con. Chúng hầu như không bao giờ tách rời nhau.

Nhóm nghiên cứu đang tìm hiểu liệu chim có khả năng nhận biết kiểu gen qua mùi cơ thể hay không. Mulard kết luận “Khả năng này có thể phục vụ đắc lực cho những loài sống theo nguyên tắc “một vợ – một chồng”. Có lẽ, chúng đã phải rất nỗ lực để lựa chọn được bạn giao phối có kiểu gen khác biệt.”

Hervé Mulard, Etienne Danchin, Sandra L Talbot, Andrew M Ramey, Scott A Hatch, Joël F White, Fabrice Helfenstein and Richard H Wagner. Evidence that pairing with genetically similar mates is maladaptive in a monogamous bird. BMC Evolutionary Biology, 2009;

Theo G2V Star (ScienceDaily)

Tác Hại Của Phối Giống Cận Huyết / 2023

Đồng huyết (consanguinity) thường do giao phối cận huyết (inbreeding ) mà ra. Giao phối cận huyết là hiện tượng các con vật có cùng huyết thống được giao phối với nhau.

Ví dụ như sự giao phối trong cùng dòng họ vật nuôi, giữa bố mẹ và con cái hay ngược lại, hoặc giữa anh chị em ruột vật nuôi với nhau. Cơ chế của sự cận huyết là các gen lặn (thường là những gen suy thoái ), chúng chỉ biểu hiện ra ngoài và thể hiện tác dụng tiêu cực khi chúng là đồng hợp tử. Khi giao phối cận huyết khả năng chúng gặp nhau là rất lớn, do hệ số đồng huyết rất cao (bố mẹ với con, anh chị em ruột với nhau: 25%; anh em họ với nhau, chú bác với cháu: 12,5%…).

Tác hại của phối giống cận huyết: Trong chăn nuôi, phối giống cận huyết ngoài ứng dụng để thuần chủng đàn giống, cố định một tính trạng, phát huy và bảo tồn huyết thống của các tổ tiên tốt, phát hiện và thải loại các gen lặn có hại… thì tác hại của giao phối cận huyết thường là rất lớn nhất là đàn vật nuôi cao sản như đàn bò sữa.

T ác hại được thể hiện ở các tính trạng sinh sản, sinh trưởng phát triển và tính trạng kinh tế như: Giảm khả năng sinh sản của thế hệ sau; giảm trọng lượng sơ sinh của bê con; giảm tốc độ sinh trưởng; gây ra hiện tượng quái thai; giảm khả năng kháng bệnh; giảm khả năng thích nghi với điều kiện sống; giảm tác dụng tiến bộ di truyền của đực giống (mục đích của truyền giống nhân tạo); giảm sức sản xuất. Các tác hại này không riêng rẽ mà chúng cộng hưởng thì hậu quả kinh tế không thể lường mà cần thời gian dài, tốn kém mới khắc phục được.

Nguyên nhân gây ra đồng huyết: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đồng huyết đàn vật nuôi như:

– Khó nhận biết hậu quả do lâu mới xuất hiện và hậu quả thường ẩn sau các yếu tố chăm sóc nuôi dưỡng. Lâu nay, nhiều nghiên cứu và chương trình tập trung giải quyết khả năng sinh sản và sức sản xuất kém thường chỉ nhắm vào các yếu tố sản khoa, yếu tố dinh dưỡng mà không chú ý đến yếu tố gián tiếp nhưng mang tính nguồn gốc đó là đồng huyết.

– Quần thể nhỏ, địa bàn phân bố của quần thể hẹp, bị cách biệt với quần thể xung quanh.

– Truyền giống nhân tạo thường giữ một số ít bò đực giống cao sản, do đó đời sau của các con đực này thường dễ cận huyết với nhau, nhất là khi quản lý giống không tốt.

– Do nhu cầu của công tác giống như tạo dòng thuần nhất, cố định các tính trạng tốt tạo điều kiện nâng cao ưu thế lai.

– Không rõ tổ tiên của bố mẹ của con bò cái và con đực giống, do không ghi chép lý lịch của bò cái nên khi phối bị nhầm lẫn. Đây thường là nhược điểm chủ yếu của cán bộ phối giống nhân tạo của ta hiện nay.

– Chất lượng con giống tạo ra do phối giống nhân tạo không gắn với tổ chức hoặc cá nhân tuyển chọn, nuôi đực giống để sản xuất tinh đông lạnh.

– Thiếu sự đa dạng, cạnh tranh trong sản xuất tinh đông lạnh để người chăn nuôi có cơ hội chọn lựa từ đó bắt buộc nhà sản xuất giống phải quản lý giống thì mới có thể tồn tại được.

– Người chăn nuôi chưa am hiểu tường tận tác hại của phối giống cận huyết vì tác hại này khó nhận biết và ẩn khuất sau các yếu tố sinh sản và chăm sóc nuôi dưỡng.

Phương pháp phòng tránh: Từ trước đến nay, chúng ta luân chuyển đực giống để phòng tránh đồng huyết. Đây chỉ là giải pháp tình thế, khi phẩm giống với tính trạng kinh tế chưa cao hoặc chưa thể sử dụng được phương pháp khác. Đã đến lúc, Việt Nam phải bỏ dần phương pháp này và có giải pháp tiên tiến hơn. Lâu nay, chúng ta đã có ý định hình thành bộ máy quản lý giống vật nuôi từ trung ương đến địa phương, nhưng không thành vì phải nuôi thêm một bộ máy mới. Từ kinh nghiệm của một số nước và nguyên nhân nêu trên, chúng ta có thể đưa ra các giải pháp cụ thể, khả thi theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, không tốn kém thêm chi phí:

– Đưa nội dung này vào trong các lớp tập huấn (thụ tinh nhân tạo, kỹ thuật chăn nuôi, khuyến nông…) để cảnh báo cho người chăn nuôi biết được tác hại của phối giống cận huyết. Từ đó, người chăn nuôi tự quản lý giống đàn vật nuôi của mình.

– Giao trách nhiệm cho tổ chức hoặc cá nhân nuôi đực giống, sản xuất tinh đông lạnh phải làm công tác giống (lập lý lịch bò cái, bê cái, ghi chép, tư vấn cho người chăn nuôi…) gắn với kiểm tra chất lượng đực giống và sản phẩm tinh cọng rạ. Đương nhiên là dưới sự quản lý nhà nước trung ương và địa phương.

– Khuyến khích các thành phần kinh tế nuôi đực giống, sản xuất tinh đông lạnh để đa dạng nguồn tinh từ nhiều đực giống khác nhau. Tạo ra sự thi đua và cạnh tranh về chất lượng, giá thành sản phẩm thông qua tính tiến bộ chất lượng giống do người chăn nuôi lựa chọn.

TS. Hà Văn Chiêu

Chó Và Mèo Có Thể Giao Phối? / 2023

Có lẽ bạn đã tự hỏi mình câu hỏi này ít nhất một lần. Bạn đã xem video về mèo và chó giao phối, nhưng không bao giờ có bất kỳ bằng chứng nào về con cái của chúng. Tất nhiên, điều này là do giao phối giữa chó và mèo là không thể và bằng cách nào đó không tự nhiên.

Hai loài này không thể giao phối với nhau, nhưng chúng có thể giao phối với các chủng tộc khác trong loài của chúng. Chúng tôi sẽ giải thích lý do tại sao điều này là không thể và điều gì ngăn cản họ đưa ra con cái.

Quá trình giao phối ở chó và mèo là cụ thể. Tuy nhiên, có một ví dụ về con đẻ của mèo và chó sống cách đây gần 50.000 năm. Động vật ăn thịt đến từ Bắc Mỹ. Chó và mèo phát triển từ tổ tiên này, và các loài ăn thịt đã sớm tuyệt chủng.

Ngay cả khi mèo và chó có thể có con, sự sống sót của chúng sẽ rất nhỏ. Bạn sẽ có rất ít cơ hội sống sót do hỗn hợp DNA không tự nhiên.

Lý do tại sao chó và mèo không giao phối là vì sự khác biệt về tâm lý của chúng. Họ thường không trả lời tín hiệu của nhau và sự hấp dẫn giữa họ là gần như không thể.

Các gen của chúng là hoàn toàn khác nhau, và trộn lẫn các gen này cũng là không thể. Cách duy nhất một con chó và mèo có thể sinh sản là thao túng gen của chúng. Điều này đã được thực hiện theo nhiều cách khác nhau ngày hôm nay, nhưng nó có thực sự cần thiết để chơi xung quanh nó? Nó có thể không cần thiết như biến những con chó của bạn thành người ăn chay.

Mèo và chó có các nghi thức giao phối cụ thể, nhưng có một vài điểm tương đồng. Cả hai đi vào mùa nóng một vài lần trong năm. Phụ nữ chỉ có thể được thụ thai bởi một người đàn ông trong thời gian này. Thời gian mang thai là 66 ngày và lứa thường chứa từ 4 đến 6 con chó con hoặc mèo con.

Chúng tôi đã đề cập đến sự khác biệt của chúng ở trên, và khá rõ ràng là hai loài này không thể sinh con. Bạn không cảm thấy bị thu hút. Cơ quan sinh sản của chúng cũng không được thiết kế cho bất kỳ loài nào khác. Tất cả những khác biệt này đều quan trọng, và bất kỳ hành vi nào khác chỉ đơn giản là không tự nhiên. Tìm hiểu thêm

Ví dụ về giao phối thành công giữa các loài

Lai thường là một từ được sử dụng để mô tả giao phối giữa các loài. Có nhiều loại giống lai khác nhau. Chúng ta có thể có con lai số, con lai di truyền, con lai cấu trúc, con lai vĩnh viễn hoặc đơn giản là con lai.

Chúng tôi thậm chí có ví dụ về giống lai trong thực vật. Các giống lai thường kết hợp các yếu tố của cả hai loài và chúng ta có thể thấy rõ sự tương đồng của các loài này. Ví dụ, con la đại diện cho con lai giữa ngựa và con la.

Vấn đề lớn nhất với giống lai là có những hạn chế nhất định. Sự đa dạng di truyền giữa các loài không cho phép chúng giao phối và sinh ra con cái. Bởi vì điều này, chúng ta không thể nhìn thấy các ví dụ về con cái từ mèo và chó.

Lai chỉ có thể nếu hai loài được liên kết. Nếu một loài thuộc phân loài, chúng có thể giao phối vì gen của chúng không hoàn toàn khác nhau.

Ở động vật, sự khác biệt có thể được thể hiện bằng tâm lý, nghi thức giao phối của chúng, thời kỳ sinh sản khác nhau và nhiều hơn nữa. Ở thực vật chúng ta có thời gian ra hoa khác nhau, vô trùng somatoplastic và nhiều hơn nữa. Những khác biệt này rất quan trọng và nếu chúng không được đáp ứng, các loài không thể sinh con.

Mèo và chó lai có thể có vấn đề hoặc hạn chế nghiêm trọng về sức khỏe, vì vậy chúng tôi có thể làm cho cuộc sống của chúng tồi tệ hơn mà không có lý do.

Chúng ta không nên lộn xộn với thiên nhiên và cố gắng sửa nó bởi vì mọi thứ tồn tại đều đẹp và chúng ta không thể làm điều đó tốt hơn hoặc hoàn hảo hơn. Một số hành vi, chẳng hạn như những con chó co giật trong giấc ngủ, chỉ là tự nhiên và không thể thay đổi. Tạo giống lai theo cách không tự nhiên không phải là thứ chúng ta có thể hưởng lợi. Nếu quá trình này là tự nhiên, nó sẽ ổn, nhưng buộc một cái gì đó là không đúng.

Xây dựng một hybrid sẽ không tự nhiên, và chúng tôi sẽ không đạt được bất cứ điều gì. Cả mèo và chó đều đẹp theo cách riêng của chúng, và chúng ta nên đánh giá cao và yêu thương chúng như nhau.

Tìm hiểu thêm về mèo với bài viết của chúng tôi về gà tây làm thức ăn cho mèo.

Mùa Giao Phối Của Chó Đực Và Dấu Hiệu Nhận Biết / 2023

Mùa giao phối của chó đực là gì? Dấu hiệu nhận biết mùa giao phối của chó đực? Những phương pháp phối giống chó nào là thông dụng nhất hiện nay?

Trong thời kỳ này, những chú chó đực thường xuất hiện một số những thay đổi về tâm lý, thể trạng hay hành vi do sự gia tăng các hóc môn testosterone trong cơ thể.

Những chú chó đực khi bước vào mùa giao phối thông thường sẽ có những hành động khác lạ như: thực hiện những hành động mang tính khoe mẽ, thể hiện và rất phô trương.

Chúng sẽ biểu hiện rõ sự nam tính của mình qua thái độ mạnh mẽ, quyết đoán và hung hăng hơn khi đến thời kỳ này để thu hút chó cái.

Tùy vào từng hình dáng, kích thước và tầm vóc to nhỏ khác nhau mà những chú chó đực sẽ có thời gian lần đầu động dục khác nhau.

Thông thường, những giống chó có tầm vóc nhỏ bé thường bước vào mùa giao phối khi khoảng từ 5-10 tháng tuổi.

Những con đực có hình dáng lớn hơn thương bắt đầu muộn hơn và thường thường là khoảng từ 12 tháng tuổi.

Thông thường khi bước vào mùa giao phối, những chú chó đực sẽ tiếp nhận sự thay đổi hooc-môn trong cơ thể.

Do đó, chúng có thể xuất hiện sự hưng phấn, kích thích khi giao tiếp hay tiếp xúc với những chú chó cái.

Hơn thế nữa, dấu hiệu sẽ dễ dàng được nhận biết hơn khi chó đực không được gặp chó cái.

Chúng sẽ xuất hiện những dấu hiệu thay đổi trong tâm lý như: căng thẳng, bồn chồn, lo lắng, không thoải mái và thường hay rên rỉ.

Nếu như bạn đang không biết chú chó cưng của mình đã bước vào mùa giao phối hay chưa vậy hãy quan sát, theo dõi những hành động của chúng khi lại gần một chú chó cái.

Đây sẽ là cơ hội tốt để bạn có thể hiểu rõ hơn về thú cưng của mình.

Trong những tình huống như thế này, những chú chó đực thường sẽ trở nên hung hăng và dữ tợn hơn bình thường rất nhiều.

Chúng có thể gầm gừ, đấu đá và xô xát nhau để thể hiện bản thân, cạnh tranh và giành quyền lợi để được giao phối với chó cái.

Hầu như khi bước vào màu giao phối những chú chó đực thường xảy ra tình trạng dư thừa tinh dịch ở hầu hết các thời điểm trong ngày.

Dấu hiệu này được xem là một trong những dấu hiệu phổ biến nhất để nhìn nhận về mùa giao phối của chó đực.

Tuy nhiên, đây cũng là dấu hiệu đối với tình trạng khi chó đực mắc phải trạng thái khủng hoảng tình dục ở loài chó.

Do đó, để nhận biết một cách chính xác hơn bạn nên kết hợp quan sát, tìm hiểu và nghiên cứu nhiều dấu hiệu nhận biết khác nhau.

Tùy vào mục đích và nhu cầu để chọn lựa ra những phương pháp phối giống cho chó phù hợp nhất. Và sau đây là ba phương pháp phối giống cho chó thông dụng và được sử dụng rộng rãi nhất:

Trong phương pháp này, chúng ta có thể lai tạo và chọn lựa ra những gen tốt nhất từ những con chó cùng loài hay có huyết thống gần nhau.

Do đó, những chú chó con được sinh ra từ phương pháp này thường có sức đề kháng tốt, khỏe mạnh và không bị ảnh hưởng từ những căn bệnh di truyền.

Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là có nguy cơ phát sinh lỗi cao hơn so với thông thường.

Đây được xem là phương pháp tối ưu để lựa chọn ra những phẩm chất tốt đẹp nhất trong quá trình nhân giống cho những chú chó con.

Theo một số các nghiên cứu, những phương pháp này thường được sử dụng để có thể tạo ra những đặc điểm tốt nhất về mặt hình dáng, cơ thể và tính cách cho quá trình nhân giống.

Do đó, xét về mặt hiệu quả phương pháp này thường mang lại những kết quả tích cực. Chính vì thế, những phương pháp pháp phối giống cho chó này được khá nhiều người sử dụng.

Ưu điểm của những phương pháp lai tạo này là tạo ra những tính cách, đặc điểm, phẩm chất mới và nổi trội.

Cụ thể, trong phương pháp này chó bố và chó mẹ sẽ đóng vai trò ngang bằng nhau.

Do đó, chó con sẽ được nhận đồng đều về gen của cả bố và mẹ của chúng. Vì thế, những phương pháp này sẽ tạo ra những chú chó con có quỹ gen khá phong phú và có khả năng miễn dịch tốt hơn những chú chó thông thường.

Khác với hai phương pháp trên, phương pháp phối giống cho chó có huyết thống gần cần các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm tiến hành thực hiện.

Phương pháp này hỗ trợ cho việc phối giống và cho ra đời những chú chó con có đặc điểm gần với giống loài nhưng lại có tính đồng trội hơn.

Do đó, những chú chó con được sinh ra từ phương pháp này thường có khả năng thuần chủng cao.

Hơn thế nữa, phương pháp này có thể giúp các chuyên gia dự đoán được những đặc điểm hình dáng, tính cách, phẩm chất của những chú chó con sẽ được sinh ra.

Tuy nhiên, phương pháp nào cũng sẽ có ưu điểm đi kèm với những nhược điểm. Đầu tiên, phương pháp này có thể làm giảm đáng kể tính đa dạng của gen.

Bên cạnh đó, những chú chó con cũng sẽ có hệ miễn dịch khá kém và có khả năng là kém hơn cả thế hệ trước.

Trường hợp xấu hơn, nếu những chú chó con được sinh ra mang những loại gen đồng lặn có thể sẽ có sức khỏe rất yếu và khó để sinh sống và phát triển.

Do đó, phương pháp này thường không mang lại tỷ lệ sống sót của chó con được sinh ra cao như hai phương pháp kể trên.