Top 10 # Thành Ngữ Tiếng Anh Mèo Khen Mèo Dài Đuôi Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Goldenworldbeauty.com

Mèo Khen Mèo Dài Đuôi!

Các cụ ta có nhiều câu ca dao, ví von đến hay.  Vì tình cảm đưa đến sự phán xét không công bằng thì bị các cụ mắng:“Mẹ hát con khen hay!”

Các cụ ta có nhiều câu ca dao, ví von đến hay.  Vì tình cảm đưa đến sự phán xét không công bằng thì bị các cụ mắng:“Mẹ hát con khen hay!”Hay để mỉa mai những người chỉ biết có mình và khen mình là hay:“Mèo khen mèo dài đuôi”Các cụ nhất định cho rằng sự thật thì:“Ở nhà nhất mẹ nhì con,Ra đường chán vạn kẻ giòn hơn ta!” Các cụ nhắc nhở, răn đe mãi nên kẻ hậu sinh cũng … hơi ớn ớn, cũng biết sợ người ta cười nên dù cái tôi có to bằng cái đình cũng ráng phải giả vờ nhũn nhặn.  Đi ăn đám cưới, nếu bạn bè lịch sự khen:-  Ấy, hôm nọ tôi có được nghe chị hát…Bà sẽ cười rất tươi:-  Cám ơn anh…Ông đỡ lời bà:-  Dạ, bác quá khen, chứ nhà tôi hát thì cũng vậy vậy thôi, có gì xuất sắc đâu.  Tạm tạm được thôi.  So sao được với Ý Lan hay Thái ThanhBà bạn giữ nhịp câu chuyện:-   Anh chị chắc rảnh?Ông tươi cười:-  Bà nhà tôi về hưu rồi nên rảnh lắm, lúc nào cũng đi lo việc phụng sự xã hội.  Hễ đâu có văn nghệ, văn gừng là nhà tôi lên giúp vui ngay.  Ông bạn cùng bàn không ngừng tay gắp đồ ăn:-   Thế à.Ông chép miệng:– Thì cũng là làm việc nghĩa ấy mà.  Cả hai vợ chồng cùng thích làm việc từ thiện nên hễ được mời thì chúng tôi xin cống hiến … vài bài cho quý vị thưởng thức.Câu chuyện ngừng lại vì bên trên sân khấu, MC đang mời bà con lên hát.  Bà đập nhẹ tay ông, nhắc:-  Kìa anh…-  Xin lỗi quý vị một lát.Ông quẳng khăn ăn xuống bàn, đứng phắt dậy, kéo tay vợ đi vội lên phía sân khấu:Ông te te chạy lên, nói nhỏ với MC.   Anh MC vui vẻ trao micro cho ông, nhắc nhỏ:-  Dạ xin bác hát một bài thôi vì có nhiều người khác muốn hát.Ông đỡ micro, bước ra sân khấu, giới thiệu mình, giới thiệu bài hát, thêm vài câu chúc mừng cô dâu, chú rể rồi say sưa thả lòng mình vào những nốt nhạc ông đã hát hàng vài trăm lần ở nhà, nhão hết mấy chiếc đĩa karaoke:-  Eva Maria…  Anh cùng em dưới ban thờ…Ông say sưa biểu diễn, thả hết tâm hồn vào dòng nhạc.  Nhưng mà…“Cái thằng cha làm đĩa karaoke này ngu như bò,  đúng ra nó phải làm cho người ta hát … ba, bốn lần, người nghe mới thấm thía chứ hát đi, hát lại có hai lần thì thấm vào đâu.  Hết mẹ nó bài rồi!”Bản nhạc dứt, ông nắm chặt micro, quay lưng lại anh MC đang tính mò ra sân khấu:-  Xin cảm ơn quý vị, xin thành thật cảm ơn quý vị.  Để đáp lại tấm thạnh tình của quý vị, tôi xin phép mời bà xã tôi lên cùng hát với tôi.  Kính thưa quý vị, đây, bà xã tôi…Giọng ông chùng xuống, đong đầy nhớ thương và kỷ niệm:– Mỗi lần hát bài Eva Maria tôi lại nhớ tới ngày tôi được hân hạnh cưới bà xã tôi.  Thưa thiệt với quý vị, tôi nhờ bà xã tôi mới có ngày nay.  Bà xã tôi là một người bạn đường, người vợ hiền của tôi, hơn nữa, người mẹ hiền của các con tôi…Có tiếng xì xào, ông MC ra phía dưới sân khấu, nhấp nhổm ra dấu.  Bà ngỏn ngoẻn đập tay ông:-  Thôi, ông ơi, hát đi để bà con nhắc kìa.-  Dạ, xin lỗi quý vị, để cảm ơn quý vị và để quý vị khỏi nóng lòng chờ đợi, đôi uyên ương chúng tôi xin song ca bài:..  Ông đưa chiếc Micro cho vợ cầm chung rồi ông liếc vợ, vợ liếc ông, tình tứ hết sức và những dòng nhạc tình cứ tuôn tràn:-  … Anh, anh ơi, người tình tôi ơi, xem người ta họ cưới nhau kìa.  -  Em ơi, người tình tôi ơi, chuyện chúng mình cũng tính đi thôi… -  Chuyện chúng mình cũng tính đi thôi… cũng tính… đi… thôi…”Nốt nhạc cuối vừa ngưng, ông bắt luôn:-  Kính thưa quý vị….Ông MC lăng xăng như gà mắc đẻ chạy vội ra sân khấu:-  Xin cám ơn hai bác… Xin cám ơn hai bác nhưng…Ông nắm chặt cái micro:-  Anh cho tôi một phút nữa thôi.Ông quay ra khán giả, cúi gập mình hết sức lịch sự:-  Xin cảm tạ và xin phép quý vị cho tôi được hát thêm một bài cuối cùng để tặng lấy hên cho cô dâu, chú rể.  Một bài cuối cùng rồi thôi.Không để ai trả lời, trả vốn, ông bắt giọng:“Từ ngày có em về, nhà mình ngập ánh trăng thề…”Tiếng một ông kêu lên:-  Trời ơi, ông này làm hết hai bài tủ của tui rồi, lấy bài đâu tui hát?Nhộn nhạo vài ba cô, cậu, ông, bà rải rác trong phòng tiệc càu nhàu:-  Sắp hết giờ rồi đó bố già ơi!  -  Để người khác hát nữa chớ!Ông Hát -Dù cười thoải mái:-  Ai hát cũng vậy thôi, để ông bà ấy hát chẳng hay hơn nhiều người khác à?-  Không phải, nhưng ăn trông nồi, ngồi trông hướng, mình biết thích hát thì cũng phải để cho người khác hát với chứ…Ông Hát-Ô gắp một  miếng tôm hùm:-  Ừ, hát quá hết phần người khác cũng như người đi ăn mà ăn hỗn vậy, mình ăn phải nhường cho người khác ăn nữa chứ ăn hết phần của người khác coi sao được.  Hát vậy gọi là hát hỗn!  Đúng không quý vị?Nhà văn gật gù đồng ý:-  Đúng vậy! chí lý lắm!Bà Hát-Ô tò mò:-  Ông có thích hát không mà đồng ý dữ vậy?Nhà văn lắc đầu:-  Tôi mà hát nỗi gì, chỉ hét là hay thôi nhưng … thấy ngứa tai thì nói cho vui vậy mà.  Bá Hát Dù cười phá lên:-  Tôi cứ tưởng ông ghen với những người được lên hát nên phê bình đó chớ.-  Đâu dám, các ông bà ấy toàn là ca sỹ “nghiệp dư” thượng thặng cả, chỉ thiếu “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” chứ không họ trở thành danh ca từ đời nào, ai dám ghen tương, phê bình?

Xong chuyện hát lại tới chuyện ăn, chuyện nói.Chuyện ăn thì dễ thôi, ai cũng ngán ăn vì sợ mập, sợ cao mỡ, sợ tiểu đường, sợ ung thư.  Tóm lại sợ đủ mọi chuyện trên đời, thế nhưng hễ chỗ nào có ăn chùa là thiên hạ lui tới đông đúc hơn, lăng xăng, lít xít, rồi vừa xếp hàng vừa phân trần:  -  Chùa mà, không ăn bỏ uổng!Hay ít nữa, những chỗ nhà hàng bán đồ ăn bao bụng cũng được chiếu cố tận tình.Tiền ai trả cũng bằng nhau, ai ăn nhiều lời, ăn ít lỗ ráng chịu!Nói chuyện tình yêu, người ta còn phân bì hơn thiệt:“Yêu thì khổ, không yêu thì lỗ,Thà chịu khổ còn hơn bị lỗ.”Chuyện cao quý như tình yêu còn bị cân nhắc, đo đếm, phân bì đến thế thì chuyện trần tục, thế nhân thường tình là chuyện ăn thì ai mà can đảm chịu lỗ?  Người nào thấy “long thể”, “ngọc thể” còn khỏe khỏe, chưa có triệu chứng ốm đau gì thì chặc lưỡi:-  Chà, cứ lo xa thì ăn mất ngon, đời mất hứng, cứ ăn đi rồi tính sau.Người trót dại không được mình hạc xương mai, tấm thân cân hơi hơi nặng, máu hơi cao cao, đường cũng hơi cao cao thì ráng tỉnh bơ, gật gù:-  Ăn trước rồi uống thuốc sau!Người cẩn thận hơn thì vừa gắp đồ ăn vừa tính toán:-  Bỏ bớt miếng mỡ ra, ta bớt được vài trăm calories, thế là ta có quyền ăn thêm miếng chúng tôi heo quay giòn rụm mà vẫn “đai-ết”, vẫn chỉ ăn hơn số calories ấn định có chút xíu chứ chả giò không ăn, da heo quay không ăn, da gà cũng không ăn thì sống lâu cũng chả có gì hứng thú.Ông Bác sĩ có cái bụng rất tròn, vừa ăn vừa cười:-   Trong tứ khoái, ăn đứng đầu, bắt nhịn thèm hoài, khổ quá.  Cứ ăn đại đi, trời kêu ai, nấy dạ.  Ăn trước đã, hạ hồi phân giải.

Chuyện nói còn rắc rối hơn nhiều.Ta nói ra sao? Nói với ai?  Nói chuyện gì? -  Dễ ợt, nói thì dĩ nhiên phải nói… bằng miệng.  Nói với người khác chứ chẳng lẽ tôi vạch đầu gối tôi ra tôi nói?  Tôi có điên đâu!-  Biết là nói với người khác, nhưng ông nói về cái gì cơ chứ?Ông trợn mắt:-  Bà này nói chuyện hay nhỉ?  Đầu óc bà để đâu mà hỏi vớ vẫn thế? Nói về cái gì à?  Thông kim, bác cổ như tôi, chuyện gì mà nói chẳng được?  Tôi có thể nói về chuyện tiến bộ khoa học, chuyện tạo sinh vô tính, chuyện du lịch sao Hỏa, chuyện Mỹ đánh Iraq, chuyện  Nga và Pháp phản đối Mỹ đánh Iraq vì các bố đã giấu giếm buôn bán võ khí với Iraq, đâm sau lưng Mỹ từ lâu.  Hay chuyện mà ai cũng biết là chuyện chiến tranh Việt Nam.  Chuyện các ông lãnh tụ của mình dở như hạch.  Đánh đấm không có bài bản gì cả.  Còn thằng Mỹ thì hèn nhát, đánh mà không dám và không muốn thắng thì làm sao thắng được?Tiểu muội nghe ông phê bình, tròn mắt ra khâm phục:-  Gớm, ông nói hay quá.-  Chứ không à?  Đánh Việt Cộng, bảo vệ tự do cho miền nam, làm tiền đồn cho thế giới tự do chống Cộng Sản  là ta có chính nghĩa, thế mà không biết biết đề cao chính nghĩa, không biết tranh thủ nhân tâm trong nước cũng như trên thế giới, không biết tấn công địch đúng lúc… Tóm lại, các ông lãnh tụ của ta dốt như … bò!  Phải vào tay tôi thì…Tiểu muội hí hửng:-  Thì chắc ta không thua phải không ông? Ông nhìn tiểu muội, nét ái ngại hiện ra rõ mồn một, chắc ông thương hại cho cái đầu óc nhỏ như con kiến của tiểu muội .-  Thua làm sao được mà thua!  Không những không thua mà mình còn Bắc tiến nữa kìa.  Tôi đã có lần được báo chí Mỹ phỏng vấn về việc đánh Việt Cộng.  Nó hỏi tôi về chiến thuật, chiến lược.  Tôi vạch rõ ràng những khuyết điểm trong cuộc chiến của mình, những lý do thất bại và tôi cũng nói cho “nó” biết luôn nếu muốn thành công thì nên làm sao…Tiểu muội vái ông sát đất:-  Gớm, đúng là vận nước.  Thế ngày ấy ông đóng chức gì trong quân đội ta ạ?Giọng ông đầy ân hận, tiếc nuối:-  Tôi mới có Đại úy.-  Giá ngày ấy có ông trong hàng ngũ lãnh đạo của ta…-  Thì ta đã chẳng làm thân mất nước, cô hiểu chưa?  Thế, thằng phóng viên nghe tôi nói thế, nó hỏi tôi:  “Nếu cuộc chiến vào tay ông thì ông tính bao lâu sẽ thanh toán xong?”Ông nhìn thẳng vào mắt tiểu muội :-  Cô có biết bao lâu không?Tiểu muội chối liền:-  Phận nữ nhi như tiểu muội, biết gì tới việc binh đao mà dám bàn loạn với các ông, xin ông tha cho, tiểu muội  chẳng trả lời đâu.Ông nhấn mạnh:-  Ba tháng!  Ba tháng!  Cô tiểu muội  nghe chưa?  Tôi bảo nó:  “Mày cung cấp đủ vũ khí, quân trang, quân dụng, còn nhân sự thì người Việt tụi tao lo lấy, mày khỏi sợ mất người.  Với chiến thuật, chiến lược của tao, tao thanh toán chiến trường và kéo ra miền bắc, thống nhất đất nước trước khi bọn Việt Cộng thành lập Mặt Trận Giải phóng miền Nam. ..Tiểu muội gãi đầu, ngập ngừng:-  Có ba… tháng… thôi à?  Sợ rằng…Ông trợn mắt:-  Cô không tin à?  -  Dạ, không phải, nhưng mà… có …ba…-  Đúng, chỉ ba tháng thôi.  Cô ngồi xuống đây, tôi vẽ bản đồ chiến thuật, chiến lược cho mà xem.  Bảo đảm chỉ ba tháng là tôi  đem quân bắc tiến, đất nước đã thống nhất từ khuya…Tiểu muội hết hồn.  Trời, tài mọn lái có mấy cái free way của Mỹ còn trật lên, trật xuống mà nghe chuyện chiến thuật , chiến lược của một vị tướng đại tài – chỉ chưa có dịp thi thố tài năng, làm nên lịch sử – như ông, thì chết là cái chắc, thôi thì đành xin kiếu từ cho lẹ.-  Thôi, xin ông, tiểu muội tới giờ đón con đi học rồi, hôm khác sẽ xin rửa tai nghe ông thuyết.Ông ngạc nhiên:-  Không có thì giờ nghe thật à?-  Dạ thật, phải đi kẻo trẻ con nó chờ.Ông giơ hai tay lên trời, thất vọng:-  Đến cô mà cũng không hiểu tôi, không chịu nghe tôi thì còn nói gì ai?  Chả trách mình mất nước là phải!!! 

Các Câu Thành Ngữ Tiếng Anh Về Mèo

Like herding cats

Ý nghĩa : Sự khó khăn khi hợp tác với những người chỉ thích làm việc độc lập (herd có nghĩa là tập hợp thành bầy, tập hợp thành nhóm)

Ví dụ : There are some brilliant thinkers at our office, but getting them to work together is like herding cats. (Trong văn phòng của chúng tôi có những nhà tư tưởng tài giỏi, nhưng để họ hợp tác làm việc cùng nhau thì lại rất khó.)

There’s more than one way to skin a cat

Ý nghĩa : Có nhiều cách để hoàn thành một nhiệm vụ, mục tiêu nào đó.

Ví dụ : We can get around that by renting instead of buying a computer – There’s more than one way to skin a cat. (Chúng ta có thể khắc phục điều đó bằng cách thuê thay vì mua một cái máy tính mới – Có nhiều cách để thực hiện mà)

To put the cat among the pigeons

Ý nghĩa : “Thả mèo giữa bầy bồ câu” – làm điều gì đó khiến sự việc thêm rắc rối.

Ví dụ : She told all the staff they would have to cancel their holidays, and that really put the cat among the pigeons. (Cô ấy nói với tất cả các nhân viên rằng họ sẽ phải hủy bỏ mọi ngày lễ của họ, và điều đó đúng là “thả mèo giữa bầy bồ câu”.)

A cat has nine lives

Ý nghĩa : “Một con mèo có tới 9 mạng sống” – Những con mèo dường như luôn tránh xa những thứ nguy hiểm.

Ví dụ : Mr. Smith has been missing for a few days, but I wouldn’t worry about him. Everybody knows a cat has nine lives. (Ông Smith đã mất tích được vài ngày rồi nhưng tôi không cảm thấy lo về điều đó. Mọi người đều biết rằng “một con mèo có tới 9 mạng sống”.)

A cat in gloves catches no mice

Ý nghĩa : “Mèo đi găng thì không bắt được chuột” – Đôi khi bạn không thể đạt được thứ bạn muốn nếu bạn quá cẩn thận và lịch sự.

Ví dụ : I think you’ll get that promotion if you pursue it more assertively. A cat in gloves catches no mice, after all. (Tôi nghĩ bạn sẽ được thăng chức nếu bạn thực hiện công việc quả quyết hơn. Rốt cuộc thì “Một con mèo mà đi găng thì không thể nào bắt được chuột.)

A cat nap

Ý nghĩa : Một giấc ngủ ngắn trong ngày

Ví dụ : I’m going to try to squeeze in a cat nap before my next shift starts, or else I’ll be feeling sluggish for the entire evening. (Tôi cố chợp mắt một lúc trước ca làm việc tiếp theo, nếu không, cả người tôi sẽ uể oải nguyên buổi tối.)

A scaredy-cat

Ý nghĩa : Nhát cáy, nhát gan, thỏ đế – Một người dễ bị sợ hãi, thiếu can đảm, không dám làm gì (scaredy nghĩa là sợ hãi)

Ví dụ : Greg called Joanne a scaredy-cat because she didn’t want to go exploring in the woods after dark. (Greg gọi Joanne là đồ thỏ đế vì cô ấy không muốn đi vào rừng thám hiểm khi trời tối.)

Bell the cat

Ý nghĩa : “Đeo chuông cho mèo”. Thành ngữ này xuất phát từ câu chuyện ngụ ngôn tên là “Belling the Cat”, kể về việc loài chuột muốn đeo chuông vào cổ mèo để tiếng chuông đó báo cho chúng biết khi nào mèo xuất hiện, vì vậy, chúng đã cử một con chuột thực hiện nhiệm vụ này, tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm vì chuột đâu dám tới gần mèo – Thực hiện một nhiệm vụ nguy hiểm, không khả thi.

Ví dụ : Who will bell the cat and take on the job of reducing corruption in this country?. (Ai can đảm đảm nhận công việc giảm tham nhũng ở quốc gia này?)

Cat fight

Ý nghĩa : “Cuộc chiến giữa những con mèo” – Cuộc chiến, tranh chấp giữa 2 người phụ nữ.

Ví dụ : It was a wild night at the bar last night. A lot of people got drunk, and they were thrown out when they started arguing and a cat fight broke out. (Đêm qua là một đêm điên cuồng tại quán bar. Rất nhiều người say, và đã bị ném ra ngoài khi họ bắt đầu cãi nhau và xô xát.)

Cat got your tongue?

Ý nghĩa : “Bị mèo cắt mất lưỡi rồi à?” – Bạn không có gì để nói à?

Ví dụ : I saw you at the bar last night with another woman. What’s the matter? Cat got your tongue? (Tớ đã nhìn thấy cậu đêm qua ở trong quán bar với một người phụ nữ khác. Có chuyện gì à? Cậu không có gì để nói với tớ sao?.)

Cat on a hot tin roof

Ý nghĩa : “Con mèo ở trên mái tôn nóng” – Cực kỳ lo lắng.

Ví dụ : She’s waiting for the doctor to call with her test results, so she’s been like a cat on a hot tin roof all day. (Cô ấy đang chờ bác sĩ gọi đến nhận kết quả xét nghiệm của mình, cô ấy bây giờ giống như “một con mèo đang ở trên mái tôn nóng”.)

Cat-and-mouse

Ý nghĩa : “Mèo và chuột” – Miêu tả mối quan hệ hồi hộp, gay cấn giữa người truy đuổi và kẻ bị truy đuổi. Nó cũng có nghĩa là đùa giỡn ác ý.

Ví dụ : A game of cat-and-mouse between an FBI agent and a criminal mastermind. (Cuộc truy đuổi giữa đặc vụ FBI và kẻ tội phạm chủ mưu.)

Cat’s paw

Ý nghĩa : “Móng vuốt mèo”. Xuất phát từ câu chuyện ngụ ngôn “The Monkey and the Cat”, kể về một con khỉ thuyết phục mèo sử dụng móng vuốt của nó để lấy hạt dẻ từ trong than nóng ra – Chỉ những người bị lừa gạt, bị lợi dụng cho mục đích của người khác.

Ví dụ : The prime minister has no real power. He’s really just a cat’s paw of business interests. (Thủ tướng không có quyền lực thực sự. Ông ấy chỉ là một “công cụ” phục vụ cho lợi ích kinh doanh.)

Cool cat

Ý nghĩa : Một người tuyệt vời (thường là đàn ông).

Ví Dụ : He is a cool cat. I really like him. (Anh ấy thật tuyệt vời. Tớ thật sự rất thích anh ấy.)

Curiosity killed the cat

Ý nghĩa : “Sự tò mò giết chết một con mèo” – Đừng nên quá tò mò, thọc mạch vào chuyện của người khác.

Ví Dụ : I think you’ll offend her by asking such personal questions – curiosity killed the cat, after all. (Tôi nghĩ bạn sẽ khiến cô ấy khó chịu khi hỏi những câu hỏi cá nhân như vậy, nên nhớ rằng “sự tò mò giết chết một con mèo”.)

Fat cat

Ý nghĩa : “Con mèo béo” – Nói một cách bất lịch sự về một người nào đó rất giàu có và quyền lực .

Ví Dụ : I’m no fat cat. I can’t even pay my normal bills. (Tôi không phải là “một con mèo béo”. Tôi thậm chí không thể thanh toán nổi các hóa đơn thông thường.)

Let the cat out of the bag

Ý nghĩa : “Để xổng mèo ra khỏi bao” – Vô tình để lộ bí mật.

Ví Dụ : How did Mom find out we were planning a surprise party for her? Who let the cat out of the bag? (Sao mẹ lại biết được tụi mình đang lên kế hoạch tổ chức một bữa tiệc bất ngờ cho bà ấy? Là ai đã làm lộ bí mật?)

Like the cat that got the cream

Ý nghĩa : “Như mèo có được kem / sữa” – Cảm thấy rất hài lòng, hạnh phúc, đắc ý với bản thân.

Ví Dụ : After her promotion, Janet spent the rest of the day looking like the cat that got the cream. (Sau khi được thăng chức, Janet tự mãn cả ngày hôm đó.)

Look what the cat dragged in

Ý nghĩa : “Nhìn vào thứ mà con mèo lôi kéo vào” – Một vị khách không mong muốn đã đến nhà.

Ví Dụ : Well, look what the cat dragged in. I suppose you want to borrow money again. (Chà, “nhìn xem con mèo đã kéo gì vào”. Cậu lại muốn mượn tiền nữa chứ gì.)

No room to swing a cat

Ý nghĩa : “Không còn đủ chỗ để quăng một con mèo” – Không gian rất nhỏ, chật hẹp.

Ví Dụ : Many families are forced to live in tiny apartments that have no room to swing a cat. (Nhiều gia đình buộc phải sống trong những căn hộ chật hẹp.)

Play cat and mouse

Ý nghĩa : “Chơi trò mèo vờn chuột” – Cố lừa ai đó để người đó phạm sai lầm, và nhân cơ hội đó bạn có thể đánh bại, thắng họ.

Ví Dụ : The 32-year-old singer spent a large proportion of the week playing cat and mouse with the press. (Vị ca sĩ 32 tuổi đã dành phần lớn thời gian trong tuần để “chơi trò mèo vờn chuột” với báo chí.)

Not have a cat in hell’s chance

Ý nghĩa : Chẳng có tí cơ hội nào để đạt được cái gì đó.

Ví Dụ : They don’t have a cat’s chance in hell of getting into the playoffs this year. (Họ không có tí cơ hội nào để tham gia vào trận đấu quyết định trong năm nay.)

Who’s she, the cat’s mother?

Ý nghĩa : “Cô ta là ai, là mẹ của bầy mèo à?” – Sao cô ta lại đề cao bản thân mình như vậy?

Ví Dụ : Samantha has been ordering everyone around lately. Who’s she, the cat’s mother? (Gần đây, Samantha hay ra lệnh cho mọi người. “Cô ta là ai, là mẹ của bầy mèo à?”)

We on social :

Tiếng Trung Chủ Đề Thành Ngữ ( Vần M)

3 năm trước

THÀNH NGỮ

TIẾNG TRUNG CHỦ ĐỀ THÀNH NGỮ ( VẦN M)

1. Ma cũ bắt nạt ma mới 旧 欺 生  jiù qī shēng 

2. Ma sai quỷ khiến, ma đưa lối quỷ dẫn đường 鬼 使 神 差  guǐ shǐ shén chā / chāi / chà 

3. Màn trời chiếu đất 风 餐 露宿  fēng cān lùsù 

4. Mạnh ai nấy làm 各自为政  gèzìwéizhèng 

5. Mạnh vì gạo, bạo vì tiền 多 钱 善 贾  duō qián shàn jiǎ 

6. Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường 同流合污 ; 同 恶 相 济  tóngliúhéwū tóng ě / è / wù xiāng / xiàng jì 

7. Măng mọc sau mưa 雨后春笋  yǔhòuchūnsǔn 

8. Mắt cá giả trân châu 鱼目混珠  yúmùhùnzhū 

9. Mặt cắt không còn giọt máu 面 无 人 色  miàn wú rén sè 

10. Mặt dày mày dạn 死 皮 赖 脸  sǐ pí lài liǎn 

11. Mặt đỏ tía tai 面红耳赤  miànhóng’ěrchì 

12. Mặt gian mày giảo 贼头贼脑  zéitóuzéinǎo 

13. Mắt không thấy, tâm không phiền 眼 不见 , 心 不 烦  yǎn bújiàn xīn bú / bù fán 

14. Mặt mày hớn hở, mặt tươi như hoa 眉开眼笑 ; 笑 逐 颜 开  méikāiyǎnxiào xiào zhú yán kāi 

15. Mặt mày ủ dột; mặt nhăn mày nhó 愁眉 不 展 ; 愁眉 锁 眼 ; 愁眉 苦 脸  chóuméi bú / bù zhǎn chóuméi suǒ yǎn chóuméi kǔ liǎn 

16. Mặt mày xanh xao 面黄肌瘦  miànhuángjīshòu 

17. Mặt mo 老 着 脸皮  lǎo zháo / zhe / zhuó liǎnpí 

18. Mặt người dạ thú, thú đội lốt người 衣冠禽兽  yīguānqínshòu 

19. Mắt nhắm mắt mở 睁 一 只 眼 闭 一 只 眼  zhēng yī zhī / zhǐ yǎn bì yī zhī / zhǐ yǎn 

20. Mất bò mới lo làm chuồng 亡 羊 补 牢 ; 贼 走 关 门  wáng yáng bǔ láo zéi zǒu guān mén 

21. Mất cả chì lẫn chài 陪 了 夫人 又 折 兵  péi liǎo / le fūrén / fùrén yòu shé / zhé bīng 

22. Mất hút con mẹ hàng lươn; bặt tin 断 线 风筝  duàn xiàn fēngzhēng 

23. Mật ít ruồi nhiều 佛 多 糕 少 ; 粥 少 僧 多  fó duō gāo shǎo / shào zhōu shǎo / shào sēng duō 

24. Mật ngọt chết ruồi 赤 舌 烧 城  chì shé shāo chéng 

25. Mẹ dại đẻ con khôn 鸡 窝 飞 出 凤凰  jī wō fēi chū fènghuáng 

26. Mẹ tròn con vuông 母 子 平安  mǔ zǐ píng’ān 

27. Mèo giả từ bi khóc chuột 猫 哭 老鼠 假 慈悲  māo kū lǎoshǔ jià / jiǎ cíbēi 

28. Mèo khen mèo dài đuôi ; mẹ hát con khen hay 老 王 卖 瓜 , 自 卖 自夸  lǎo wáng mài guā zì mài zìkuā 

29. Mèo mà gà đồng (bọn trộm cắp, lăng nhăng) 偷 鸡 摸 狗  tōu jī mō gǒu 

30. Méo mó có còn hơn không (cá con còn hơn đĩa không)  聊 生 于 无  liáo shēng yú wú 

31. Mèo mù vớ được cá rán 瞎 猫 碰 上 死 耗子  xiā māo pèng shàng sǐ hàozi 

32. Mềm nắn rắn buông 欺软怕硬  qīruǎnpàyìng 

33. Mệt bở hơi tai 疲于奔命  píyúbēnmìng 

34. Miệng ăn núi lở 座 吃 山 空 ; 坐 吃 山崩  zuò chī shān kong / kòng / kōng zuò chī shānbēng 

35. Miệng còn hôi sữa, chưa ráo máu đầu 胎 毛 未 脱 ; 乳臭未干  tāi máo wèi tuō rǔxiùwèigān 

36. Miếng thịt là miếng nhục 嗟来之食  jiēláizhīshí 

37. Miệng thơn thớt, dạ ớt ngâm 笑里藏刀  xiàolǐcángdāo 

38. Mò kim đáy biển 海里 捞 针  hǎilǐ lāo zhēn 

39. Mong như mong mẹ về chợ 盼 母 市 归  pàn mǔ shì guī 

40. Mồ cha không khóc khóc nhầm tổ mối 哭 错 了 坟 头  kū cuò liǎo / le fén tóu 

41. Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh 家 家 有 本 难 念 的 经  jiā jiā yǒu běn nàn / nán niàn dì / de / dí jīng 

42. Môi hở răng lạnh; máu chảy ruột mềm 唇亡齿寒  chúnwángchǐhán 

43. Mỗi lúc mỗi khác; lúc trước khác,lúc này khác 彼 一时 , 此 一时  bǐ yīshí cǐ yīshí 

44. Mồm loa mép giải 油嘴滑舌  yóuzuǐhuáshé 

45. Mồm mép tép nhảy 油嘴滑舌  yóuzuǐhuáshé 

46. Một bữa là vàng, hai bữa là thau 数见不鲜  shuōjiànbùxiān 

47. Một cây làm chẳng nên non 独 木 不 成 林  dú mù bú / bù chéng lín 

48. Một con chim én không làm nên mùa xuân 独 木 不 成 林 ; 孤 掌 难 呜  dú mù bú / bù chéng lín gū zhǎng nàn / nán wū 

49. Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ 一 匹 马 不 走 、 十 匹 马 等 着  yī pǐ mǎ bú / bù zǒu shí pǐ mǎ děng zháo / zhe / zhuó 

50. Một công đôi việc 一举两得 ; 一箭双雕  yījǔliǎngdé yījiànshuāngdiāo 

51. Một chó sủa bóng, trăm chó sủa tiếng 吠 形 吠 声  fèi xíng fèi shēng 

52. Một chữ bẻ đôi không biết, dốt đặc cán mai 不 识 一 丁  bú / bù shí yī dīng 

53. Một đồn mười, mười đồn trăm 一 传 十 , 十 传 百  yī zhuàn / chuán shí shí zhuàn / chuán bǎi 

54. Một lòng một dạ 一心一意 ; 一 心 一 德 、 一 个 心 眼  yīxīnyīyì yī xīn yī dé yī gè xīn yǎn 

55. Một miệng thì kín, chín miệng thì hở 六 耳 不同 谋  liù ěr bùtóng móu 

56. Một người làm quan cả họ được nhờ 弹 冠 相 庆 ; 拔 矛 连 茹 ; 一 子 出家 , 九 祖 升 天  tán / dàn guān / guàn xiāng / xiàng qìng bá máo lián rú yī zǐ chūjiā jiǔ zǔ shēng tiān 

57. Một người lo bằng một kho người làm 千 羊 之 皮 , 不如 一 狐 之 腋 ; 千 军 易 得 , 一 将 难 求  qiān yáng zhī pí bùrú yī hú zhī yè qiān jūn yì dé / de / děi yī jiāng / jiàng nàn / nán qiú 

58. Một nhát đến tai, hai nhát đến gáy 八 字 没 一 撇  bā zì mò / méi yī piě 

59. Một sống một chết, một mất một còn 你死我活  nǐsǐwǒhuó 

60. Một trời một vực 大 相 经 庭 ; 天 悬 地 隔  dài / dà xiāng / xiàng jīng tíng tiān xuán dì / de gé 

61. Một việc không xong; không nên trò trống gì 一事无成  yīshìwúchéng 

62. Một vốn bốn lời (bỏ một đồng cân, khuân về cả vạn) 一 本 万 利  yī běn wàn lì 

63. Một vừa hai phải 适可而止  shìkě’érzhǐ 

64. Mở cờ trong bụng 心花怒放 ; 眉飞色舞  xīnhuānùfàng méifēisèwǔ 

65. Mở cửa sổ thấy núi 一针见血  yīzhēnjiànxuě 

66. Mỡ nó rán nó; ngỗng ông lễ ông 羊毛 出 在 羊 身上  yángmáo chū zài yáng shēnshàng 

67. Mũ ni che tai 置若罔闻  zhìruòwǎngwén 

68. Mua dây buộc mình 作 茧 自 缚 ; 庸人 自 优  zuō / zuò jiǎn zì fù yōngrén zì yōu 

69. Múa gậy vườn hoang, làm mưa làm gió 为所欲为  wéisuǒyùwéi 

70. gé shān mǎi lǎo niú – Mua mèo trong bị 隔 山 买 老 牛

71. bānménnòngfǔ guān gōng miànqián shuǎ dài / dà dāo Múa rìu qua mắt thợ, đánh trông qua cửa nhà sấm 班门弄斧 ; 关 公 面前 耍 大 刀

72. Muối bỏ bể 沧海一粟  cānghǎiyísù 

73. Muốn ăn gắp bỏ cho người 欲 取 故 予  yù qǔ gù yú / yǔ 

74. Muốn ăn phải lăn vào bếp 不 入 虎穴 , 焉 得 虎 子  bú / bù rù hǔxué yān dé / de / děi hǔ zǐ 

75. Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người 十 年 树木 , 百年 树 人  shí nián shùmù bǎinián shù rén 

76. Mười ngón tay có ngón dài ngón ngắn 一 母 之 子 有 愚 贤 之 分 、 一 树 之 果 有 酸 甜 之 别 ; 一 陇 生 九 种 、 种种 个别 ; 十 个 指头 不 一般 齐  yī mǔ zhī zǐ yǒu yú xián zhī fèn / fēn yī shù zhī guǒ yǒu suān tián zhī bié / biè yī lǒng shēng jiǔ zhòng / zhǒng zhǒngzhǒng gèbié shí gè zhítou / zhǐtóu bú / bù yībān qí 

77. Mười rằm cũng ư, mười tư cũng gật 人 云 亦 云  rén yún yì yún 

78. Mượn gió bẻ măng 趁火打劫  chènhuǒdǎjié 

79. Mượn lược thầy tu (hỏi đường người mù) 问道于盲  wèndàoyúmáng 

80. Mượn rượu làm càn 借 酒 做 疯  jiè jiǔ zuò fēng 

81. Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên 谋 事 在 人 , 成 事 在 天  móu shì zài rén chéng shì zài tiān

===================

TIẾNG TRUNG THĂNG LONG  Địa chỉ: Số 1E, ngõ 75 Hồ Tùng Mậu, Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội   Hotline: 0987.231.448  Website: http://tiengtrungthanglong.com/  Học là nhớ, học là giỏi, học là phải đủ tự tin bước vào làm việc và kinh doanh.

Nguồn: www.tiengtrungthanglong.com Bản quyền thuộc về: Tiếng Trung Thăng Long Vui lòng không copy khi chưa được sự đồng ý của tác giả

Các Thành Ngữ Tiếng Pháp Vui Nhộn Sử Dụng Từ Tiếng Pháp ‘Trò Chuyện’

‘C’est du Pipi de Chat,’ và các thành ngữ tiếng Pháp hài hước khác với chú mèo trong tâm trí

Lưu ý rằng từ tiếng Pháp cho mèo là “không tán gẫu” (im lặng “t”), khi nói chung hoặc về một con mèo đực. Đó là “une chatte” (“t” được phát âm), khi nói về một con mèo cái. Đối với cả hai, “ch” có âm “sh” trong “cạo râu”, không phải “tch” thường được tìm thấy bằng tiếng Anh.

Cẩn thận: Từ nữ tính dành cho mèo (“une chatte”) có cùng nghĩa kép với từ tiếng Anh “pussy”.

1. Bỏ trò chuyện, bỏ trò chuyện

Bản dịch: Gọi mèo là mèo Ý nghĩa: Nói những điều như chúng; gọi một cái thuổng

Patrice est un gros menteur. Il faut appeler un chat un chat. Patrice là một kẻ nói dối lớn. Anh ấy cần phải nói những điều theo cách của họ.

2. Avoir un chat dans la gorge

Bản dịch: Để có một con mèo trong cổ họng Ý nghĩa: Để có một con ếch trong cổ họng, một chất nhầy dư thừa

Et je pense que … hum, hum. Désolée, j’avais un chat dans la gorge. Và tôi nghĩ rằng … hmm, hmm. Xin lỗi, tôi đã có một con ếch trong cổ họng.

3. Donner sa langue au chat

Bản dịch: Để lưỡi của bạn cho mèo Ý nghĩa: Không thể đoán được. Cẩn thận: Nó khác với tiếng Anh “Mèo có lưỡi của bạn,” có nghĩa là không có gì để nói.

Et alors? Quí vị đã bỏ mặc? Tu donnes ta langue au chat? C’est Pierre!

Vì thế? Ai sẽ đến ăn tối vào ngày mai? Bạn không thể đoán được? Đó là Pierre!

4. Quand le chat n’est pas là, les souris dansent.

Bản dịch: Khi con mèo đi, những con chuột nhảy múa. Có nghĩa là: Mọi người cư xử không đúng cách mà không có sự giám sát. Cẩn thận: Động từ là “danser” với chữ “s” trong tiếng Pháp, không giống như “dance” với chữ “c” trong tiếng Anh.

Tôn trọng một fait la fête toute la nuit quand vous étiez partis le cuối tuần dernier? Ce n’est pas surprenant: Quand le trò chuyện n’est pas là, les souris dansent. Thanh thiếu niên của bạn chia tay cả đêm trong khi bạn đã đi cuối tuần trước? Điều này không có gì đáng ngạc nhiên: Khi con mèo ở xa, những con chuột sẽ chơi.

5. Il n’y a pas un chat.

Bản dịch: Không có một con mèo (trong tầm mắt). Ý nghĩa: Không có ai (hoặc chỉ một vài người, nhưng ít hơn dự kiến).

Il n’y avait pas un chat à la réunion. Không có ai trong cuộc họp.

6. C’est du pipi de chat.

Bản dịch: Đó là mèo pee. Ý nghĩa: Nó không quan trọng.

Tes problèmes à côté de ceux de Pierre, hãy nói chuyện với bạn! Vấn đề của bạn so với Pierre là không có gì!

Alternative articles